vanban.org

Bản án 28/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn Tấn phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 26…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HS-ST
Ngày 15-8-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Quyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Xuân Thương

2. Bà Đoàn Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Văn Dương, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:

Lương Văn T, sinh ngày 03 tháng 5 năm 1960 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn H, xã S, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Nông; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn C (đã chết) và bà Bạch Thị T1 (đã chết); có vợ là Phạm Thị V, sinh năm 1959; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1981 và nhỏ nhất sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/4/2025 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Mai Thị Thanh H (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: ông Đỗ Ngọc N, sinh năm 1961 (chồng của bị hại), chị Đỗ Thị Kim C1, sinh năm 1985 và anh Đỗ Ngọc H1, sinh năm 1987 (các con của bị hại), cùng cư trú: Thôn C, phường T, tỉnh Quảng Ngãi.

Chị Đỗ Thị Kim C1 và anh Đỗ Ngọc H1 ủy quyền tham gia tố tụng cho ông Đỗ Ngọc N, giấy ủy quyền ngày 03/4/2025.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 33 phút, ngày 25/12/2024, Lương Văn T điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát: 76D1-563.73 lưu thông trên làn đường phía B đường V theo hướng từ Đông sang T. Khi đến trước số nhà G đường V, thuộc thôn C, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi (nay là phường T, tỉnh Quảng Ngãi), T điều khiển xe mô tô không chú ý quan sát, không nhường đường cho người đi bộ nên xảy ra va chạm với bà Mai Thị Thanh H (sinh năm 1959; Nơi cư trú: Thôn C, xã T, thành phố Q, nay là phường T, tỉnh Quảng Ngãi) đang đi bộ qua đường tại nơi không có vạch kẻ đường theo hướng từ Nam ra B trên phần đường phía Bắc đường V; hậu quả Bà Mai Thị Thanh H chết.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám phương tiện liên quan trong vụ tai nạn. Kết quả khám nghiện hiện trường ngày 25/12/2024, xác định:

Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ tại đường V (trước số nhà G thôn C, xã T (nay là phường T), tỉnh Quảng Ngãi) có phương Đ - Tây, rộng 13,9m, được trải nhựa tương đối bằng phẳng, không bị che khuất tầm nhìn, giữa đường có hai vạch sơn vàng liền nét song song với nhau chia thành hai phần đường xe chạy ngược chiều nhau (trong đó phần đường phía Bắc rộng 7,07m gồm hai làn đường được phân cách với nhau bởi vạch sơn trắng đứt nét, tính từ B – Nam, độ rộng làn 1 và 2 lần lượt là 3,5m và 3,57m). Tại thời điểm khám nghiệm hiện trường, mặt đường trơn ướt. Hai bên đường là vĩa hè và nhà dân.

Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn: Chọn trụ đèn CS34 trên vỉa hè phía Bắc đường V làm điểm mốc; lấy mép phía Bắc đường V làm mép chuẩn (vị trí phương tiện đo từ mép chuẩn về hướng N).

Xe mô tô, biển kiểm soát: 76D1 – 563.73 đang trong trạng thái ngã sang bên phải, đầu xe quay về hướng T, đuôi quay về hướng Đông Bắc. Hình chiếu đầu trục bên phải bánh trước của xe xuống mặt đường cách điểm mốc về hướng Đông Nam 5,24m và cách mép chuẩn 2,8m; Hình chiếu đầu trục bên phải bánh sau của xe xuống mặt đường cách mép chuẩn 2,46m và cách mép phía Tây dãy vạch gờ giảm tốc (phía Đông hiện trường) về hướng Tây 7,4m.

Kết luận giám định tử thi qua hồ sơ số 28/KLTTHS-TTPY ngày 12/02/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh Q về nguyên nhân chết của bà Mai Thị Thanh H là do chấn thương sọ não.

Kết luận giám định số 12/KL-KTHS, ngày 17/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: Không có cơ sở kết luận điểm va chạm đầu tiên, vị trí va chạm đầu tiên trên mặt đường giữa xe mô tô 76D1-563.73 với bà Mai Thị Thanh H, chiều hướng chuyển động của xe mô tô 76D1-563.73. Không có cơ sở giám định tốc độ của xe mô tô, biển kiểm soát 76D1-563.73 và xe mô tô tại thời điểm va chạm.

Cáo trạng số 04/CT-VKS-KV1 ngày 10/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Quảng Ngãi truy tố bị cáo Lương Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lương Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lương Văn T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và đại diện hợp pháp của người bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Những tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập là phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Quảng Ngãi và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Lương Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, các kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở xác định:

Khoảng 07 giờ 33 phút, ngày 25/12/2024, bị cáo Lương Văn T điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát: 76D1-563.73 lưu thông trên làn đường phía B đường V theo hướng từ Đông sang T. Khi đến trước số nhà G đường V, thuộc thôn C, xã T (nay là phường T), tỉnh Quảng Ngãi, do T điều khiển xe mô tô không chú ý quan sát, không nhường đường cho người đi bộ nên xảy ra va chạm với bà Mai Thị Thanh H đang đi bộ qua đường tại nơi không có vạch kẻ đường theo hướng từ Nam ra B trên phần đường phía Bắc đường V, hậu quả làm cho Bà Mai Thị Thanh H bị chấn thương sọ não và tử vong.

Khoản 4 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định “Những nơi không có vạch kẻ đường cho người đi bộ, người điều khiển phương tiện phải quan sát, nếu thấy người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật đang qua đường thì phải giảm tốc độ, nhường đường cho người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường bảo đảm an toàn”. Bị cáo Lương Văn T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76D1-563.73 lưu thông trên đường không chú ý quan sát, không nhường đường cho người đi bộ nên xảy ra va chạm với bà Mai Thị Thanh H đi bộ qua đường tại nơi không có vạch kẻ đường, không bảo đảm an toàn, gây tại nạn cho bà H, hậu quả làm cho bà H tử vong. Như vậy, hành vi của bị cáo Lương Văn T đã vi phạm các quy định của Luật giao thông đường bộ năm 2008 như đã nêu trên nên đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Quảng Ngãi truy tố bị cáo Lương Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường cho bị hại số tiền 80.000.000 đồng và gia đình người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Bị cáo Lương Văn T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng không tuân thủ đúng quy định của pháp luật giao thông đường bộ. Do đó, hành vi của bị cáo Lương Văn T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự, an toàn công cộng. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã gây ra; bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại với số tiền là 80.000.000 đồng. Về phía bị hại bà Mai Thị Thanh H cũng có một phần lỗi khi đi bộ qua đường tại nơi không có vạch kẻ đường, không đảm bảo an toàn là vi phạm quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 32 Luật Giao thông đường bộ năm 2008.

Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu với lỗi vô ý, có nơi cư trú rõ ràng, không có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa, ông Đỗ Ngọc N là đại diện người bị hại xác định tai nạn xảy ra có phần lỗi của bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xử phạt bị cáo với mức hình phạt nhẹ nhất. Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, cũng như để tạo điều kiện cho bị cáo được tự rèn luyện, tự cải tạo để trở thành người công dân tốt cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, góp phần đấu tranh và phòng chống tội phạm.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại với số tiền là 80.000.000 đồng, người đại diện hợp pháp của bị hại đã có đơn bãi nại về dân sự và tại phiên tòa đại diện bị hại là ông Đỗ Ngọc N (chồng của bị hại) không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- 01 (môt) xe mô tô, biển kiểm soát: 76D1-563.73; số máy: JC90E0302465; số khung: RLHC765NY323283; nhãn hiệu: HONDA; loại xe: FUTURE; màu xanh –đen; chủ đăng ký là Lương Văn T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q trả lại cho bị cáo T là phù hợp quy định của pháp luật.

- 01 (một) USB hiệu Toshiba lưu trữ đoạn video được trích xuất từ camera nhà số G đường V, thôn C, xã T, thành phố Q (nay thuộc phường T), tỉnh Quảng Ngãi, ghi nhận diễn biến vụ tai nạn giao thông kèm theo hồ sơ vụ án.

Về án phí: Căn cứ quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lương Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Quảng Ngãi về tội danh, hình phạt có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lương Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lương Văn T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 15/8/2025).

Giao bị cáo Lương Văn T cho Ủy ban nhân dân xã S, tỉnh Quảng Ngãi giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lương Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

3. Bị cáo, người đại diện của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ