- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC X - ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2025/HS-ST Ngày 08-9-2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC X - ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trương Anh Tuấn Các Hội thẩm nhân dân: bà Cao Thị Hồng Minh
bà Nguyễn Thúy Hà
- Thư ký phiên tòa: bà Giáp Thị Bích Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực X - Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực X - Điện Biên tham gia phiên tòa: ông Ngô Hoài Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực X - Điện Biên, tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20/2025/TLST-HS ngày 13/8/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST-HS ngày 26/8/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn C; Giới tính: Nam. Sinh ngày 08 tháng 8 năm 1976 tại tỉnh Điện Biên. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: bản B, xã Ẳ , huyện M, tỉnh Điện Biên (cũ) nay là xã B, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; con ông Trần Văn M (đã chết) và bà Hoàng Thị M, sinh năm 1954; Vợ là Lò Thị T, sinh năm 1983; bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án: không; tiền sự: không; chức vụ đảng, chính quyền: không; nhân thân: năm 2009 bị Công an huyện M phạt cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 25 ngày 18/6/2009, năm 2017 bị Tòa án nhân dân huyện M áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 20/2017/QĐ-TA ngày 23/8/2017, năm 2021 bị Tòa án nhân dân huyện M xử phạt 13 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 48/2021/HS-ST ngày 26/4/2021, bị cáo đã chấp hành xong và được coi là chưa bị xử lý hành chính, đã được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/6/2025, tạm giam từ ngày 14/6/2025 đến nay. Bị cáo có mặt.
NỘI DUNG V ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 28/5/2025 bị cáo Trần Văn C đang ở nhà thuộc bản B, xã Ẳ, huyện M (nay là xã B, tỉnh Điện Biên) thì có một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết đến nhà và tự giới thiệu tên là C. Bị cáo hỏi mua Heroine nhưng C nói hiện tại chưa có rồi hẹn hôm sau sẽ mang đến bán cho C. Khoảng 02 giờ ngày 02/6/2025 người đàn ông tên C mang 01 gói ma túy loại Heroine được gói bằng nilon màu đen bán cho bị cáo với giá 500.000 đồng. Nhận được ma túy, bị cáo đã chia gói Heroine ra thành 04 gói nhỏ và gói bằng mảnh giấy trắng in chữ đánh máy rồi cất giấu vào túi quần để sử dụng dần. Ngày 04/6/2025 bị cáo sử dụng hết 01 gói Heroine bằng hình thức hít. Hồi 14 giờ 30 phút ngày 05/6/2025, bị cáo lấy 03 gói Heroine lên bàn uống nước chuẩn bị sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã Ẳ (nay là Công an xã B) vào nhà phát hiện, bắt quả tang và thu giữ 03 gói ma túy của bị cáo.
Vật chứng thu giữ gồm: 03 gói được gói ngoài bằng giấy màu trắng có in chữ, bên trong các gói đều chứa chất bột màu trắng dạng cục và dạng bột.
Kết luận giám định số 540/KL-KTHS ngày 12/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh Điện Biên kết luận: vật chứng gửi giám định thu giữ của Trần Văn C có khối lượng 0,16 gam là chất ma túy: loại Heroine.
Cáo trạng số 18/CT-VKSKV1 ngày 12 tháng 8 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực X - Điện Biên truy tố bị cáo Trần Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; về vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại, 03 mảnh giấy màu trắng đề nghị miễn án phí cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi mua và cất giấu trái phép chất ma túy trong người với mục đích để sử dụng và đã bị Công an phát hiện bắt giữ. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến bắt quả tang bị cáo, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết quả thu giữ vật chứng; biên bản xác định khối lượng và bản Kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh Điện Biên.
Có đủ cơ sở kết luận, ngày 02/6/2025 bị cáo đã một mình mua được 01 gói ma túy loại Heroine trị giá 500.000 đồng, sau khi mua được bị cáo chia nhỏ thành các gói để sử dụng dần, ngày 05/6/2025 khi bị cáo lấy ma túy ra để sử dụng đã bị Công an phát hiện và thu giữ 03 gói Heroine.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã cố ý mua và cất giấu 0,16 gam Heroine với mục đích để sử dụng, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự; bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ngày 05/6/2025 nên áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo.
Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”
Vì vậy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[2] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo có bố đẻ là ông Trần Văn M là người có công với cách mạng, được Hội đồng bộ trưởng tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất, đây là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự áp dụng cho bị cáo.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: bị cáo là người nghiện chất ma túy, đã 02 lần bị xử lý hành chính và 01 lần bị kết án, bị cáo đã chấp hành xong và được xóa án tích, cần xem xét bị cáo có nhân thân xấu khi quyết định mức hình phạt.
Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo.
[3] Về hình phạt bổ sung: xét gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo, không có tài sản có giá trị; bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về các vấn đề có liên quan: đối với người bán ma túy cho bị cáo, quá trình Điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ, nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét, xử lý.
[5] Về vật chứng của vụ án: số ma túy còn lại có khối lượng 0,14 gam Heroine là vật cấm tàng trữ, 03 mảnh giấy màu trắng có in chữ đánh máy là vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí: bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên được miễn toàn bộ án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, ngƣời có thẩm quyền tiến hành tố tụng: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT Đ NH:
Căn cứ Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sụng năm 2017
1. Tuyên bố: bị cáo Trần Văn C phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Hình phạt: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự,
Xử phạt bị cáo Trần Văn C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/6/2025.
3. Về vật chứng vụ án: áp dụng điểm a,c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
*Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) phong bì niêm phong của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên được dán kín các mép bên trong có chứa 03 mảnh giấy màu trắng có in chữ đánh máy.
- 01 (một) phong bì niêm phong của phòng K Công an tỉnh Điện Biên được dán kín các mép bên trong có chứa 0,14 gam Heroine còn lại sau khi trích mẫu gửi giám định.
Các vật chứng cơ quan Thi hành án dân s đang quản l theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra Công an tỉnh và phòng Thi hành án dân s khu v c X - Điện Biên.
4. Về án phí: áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án:
Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Trần Văn C.
5. Kháng cáo: áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 08/9/2025). Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND Khu vực X - Điện Biên;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Điện Biên;
(đã ký)
- Công an tỉnh Điện Biên (PC04);
- Trại tạm giam Công an tỉnh Điện Biên;
- Bị cáo;
- Phòng Giám đốc kiểm tra, Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên;
- THADS tỉnh Điện Biên;
Trƣơng Anh Tuấn
- Phòng HSNV Công an tỉnh (PV06);
- Lưu: HSVA, HCTP
| Nơi nhận: - VKSND Khu vực 1- Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Công an tỉnh Điện Biên (PC04); - Trại tạm giam Công an tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - Phòng Giám đốc kiểm tra, Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên; - THADS tỉnh Điện Biên; - Phòng HSNV Công an tỉnh (PV06); - Lưu: HSVA, HCTP | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trƣơng Anh Tuấn |