- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly Hôn Hoàng Thị T Đinh Quang H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị T, cụ thể như sau:
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2025/HNGĐ-ST Ngày: 29-8-2025 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Minh Yên.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hằng
2. Ông Nguyễn Kim Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Anh Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai.
Đại diện VKSND khu vực 6 - Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc A – Kiểm sát viên. Ngày 29 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 90/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 7năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2025/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2025, Quyết định thay đổi Hội thẩm nhân dân số 13/2025/QĐ-TA ngày 29/8/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị T, Địa chỉ: Thôn S, xã K, huyện V (N là Thôn S, xã V), tỉnh Lào Cai. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt
Bị đơn: Anh Đinh Quang H, Địa chỉ: Tổ A, phường B, thành phố L (nay là tổ A B, phường C), tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Hoàng Thị T trình bày: Chị Hoàng Thị T và anh Đinh Quang H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 18/5/2018 tại UBND phường B, thành phố L (nay là UBND phường C), tỉnh Lào Cai. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, không quan tâm đến nhau, cuộc sống chung không có hạnh phúc, anh Đinh Quang H thường xuyên gây sự và đánh đập chị Hoàng Thị T. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ tháng 02/2025 đến nay không quan tâm đến nhau về tình cảm và kinh tế. Đến nay chị Hoàng Thị T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống với nhau được nữa nên chị Hoàng Thị T đã làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đinh Quang H.
Về con chung: Trong quá trình chung sống anh chị có 01 con chung là cháu Đinh Gia H1, sinh ngày 01/12/2018. Khi ly hôn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đinh Gia H1, và yêu cầu anh Đinh Quang H có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con hàng tháng, mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi cháu H1 đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Hoàng Thị T không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết tại Tòa án và tại đơn xin xét xử vắng mặt, chị Hoàng Thị T giữ nguyên yêu cầu về ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được nuôi dưỡng cháu H1 và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.
Quá trình giải quyết vụ án tòa án đã tiến hành tống đạt văn bản tố tụng cho anh Đinh Quang H, anh H đã nhận các văn bản tố tụng, giấy triệu tập của Tòa án nhưng không có văn bản trả lời tòa án và không đến tham gia phiên hòa giải, Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa, chị Hoàng Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Đinh Quang H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Lào Cai phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký là đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã chấp hành pháp luật đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành các quy định của pháp luật về tố tụng. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân gia đình; khoản 4 điều 147; Điều 227; Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Đinh Quang H, Về con: giao cháu Đinh Gia H1 cho chị Hoàng Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu trưởng thành 18 tuổi. Anh Đinh Quang H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tuyên nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng cáo theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Bị đơn anh Đinh Quang H có hộ khẩu thường trú tại thành phố L (nay là phường C), tỉnh Lào Cai. Căn cứ Khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi bổ sung Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự; Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 Lào Cai) thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Tại phiên tòa nguyên đơn chị Hoàng Thị T vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Đinh Quang H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.
Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị T và anh Đinh Quang H có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên hôn nhân của anh chị được pháp luật bảo vệ.
Sau khi kết hôn, Chị Hoàng Thị T và anh Đinh Quang H chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Chị T trình bày anh chị đã sống ly thân từ đầu năm 2025 đến nay, anh H không quan tâm đến chị và con. Đến nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn.
Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương, kết quả xác minh tại tổ A B, phường C cho thấy anh Đinh Quang H có hộ khẩu thường trú tại Tổ A B, phường C, quá trình chung sống anh H và chị T có mâu thuẫn cãi nhau, có khi còn đánh nhau nhưng tổ trưởng không rõ nguyên nhân.
Do đó xác định hôn nhân của chị Hoàng Thị T và anh Đinh Quang H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặt khác, hiện nay anh chị đã sống ly thân, không chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ các công việc gia đình, như vậy anh chị đã không còn tình nghĩa vợ chồng nữa. Tại đơn xin xét xử vắng mặt chị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, xử cho chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Đinh Quang H. Hôn nhân của chị Hoàng Thị T và anh Đinh Quang H chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Về con chung: Quá trình chung sống chị Hoàng Thị T và anh Đinh Quang H có 01 con chung là cháu Đinh Gia H1, sinh ngày 01/12/2018. Quá trình giải quyết và tại đơn xin xét xử vắng mặt, chị Hoàng Thị T xác định hiện chị đang trực tiếp nuôi cháu nên đề nghị Tòa án giao cháu Đinh Gia H1 cho chị trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh Đinh Quang H cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu H1 chưa đủ 7 tuổi, trong đơn khởi kiện chị T có yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh H cấp dưỡng nuôi con hàng tháng, mỗi tháng 2.000.000 đồng, tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án chị T đề nghị khẳng định chị đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu H1, quá trình nuôi dưỡng anh H không có đóng góp nuôi con với chị; Sau khi Tòa án thụ lý giải quyết, anh Đinh Quang H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến làm việc, không tham gia phiên tòa, cũng không có ý kiến gì về việc nuôi con chung. Xét thấy chị T thay đổi yêu cầu khởi kieenjm không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện, hiện nay cháu H1 đang ở cùng chị T và vẫn đảm bảo được điều kiện chăm sóc tốt nhất cho cháu. Căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Hoàng Thị T, giao cháu Đinh Gia H1 cho chị Hoàng Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành 18 tuổi hoặc đến khi các đương sự có yêu cầu thay đổi khác. Anh Đinh Quang H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Hoàng Thị T phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1,3 Điều 228; khoản 1 Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 (sửa đổi bổ sung Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự); điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị T, cụ thể như sau:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Đinh Quang H. Hôn nhân của chị Hoàng Thị T và anh Đinh Quang H chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao con chung của chị Hoàng Thị T và anh Đinh Quang H là cháu Đinh Gia H1, sinh ngày 01/12/2018 cho chị Hoàng Thị T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu trưởng thành 18 tuổi hoặc đến khi các đương sự có yêu cầu thay đổi khác. Anh Đinh Quang H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Hoàng Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận chị Hoàng Thị T đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 1146 ngày 14/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai (Nay là phòng Thi hành án khu vực 6 Lào Cai). Chị Hoàng Thị T đã thi hành xong khoản tiền án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Lào Cai; -VKSND Khu vực 6; VKSND tỉnh Lào Cai; - THADS tỉnh Lào Cai; -Các đương sự; -UBND phường Cam Đường; -Lưu HS, TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lý Thị Minh Yên |