- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Khưu Thị Mỹ H và anh Lý Văn M"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Khưu Thị Mỹ H được ly hôn với anh Lý Văn M.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2025/HNGĐ-ST Ngày: 24-3-2025 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Ngọc Duyên
2. Bà Nguyễn Thanh Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thúy Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 66/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Khưu Thị Mỹ H, sinh ngày 09 tháng 10 năm 1995 (có mặt);
Nơi đăng ký thường trú: T1, ấp L2, xã HY, huyện AB, tỉnh Kiên Giang. Nơi cư trú: ấp BL, xã MH, huyện CT, tỉnh Kiên Giang.
2. Bị đơn: Anh Lý Văn M, sinh năm 1983 (vắng mặt);
Địa chỉ: T1, ấp L2, xã HY, huyện AB, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 23 tháng 11 năm 2024 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Khưu Thị Mỹ H trình bày và yêu cầu như sau:
Chị và anh Lý Văn M chung sống với nhau vào năm 2013, đến năm 2014 đi đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã HY, huyện AB, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 20/2014 ngày 13 tháng 02 năm 2014. Chị và anh Lý Văn M có 01 người con chung tên Lý Quốc T, sinh ngày 06 tháng 10 năm 2013 hiện nay đang chung sống với chị; về tài sản chung và nợ, chị và anh Lý Văn M không có tài sản chung, không có nợ người khác, người khác không nợ anh chị. Quá trình chung sống anh Lý Văn M không lo làm ăn chăm lo cho gia đình, chị và anh Lý Văn M thường xuyên cự cãi về vấn đề kinh tế gia đình nên chị và anh Lý Văn M sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Chị thấy, chị và anh Lý Văn M không còn tình cảm vợ chồng, chị yêu cầu Tòa án giải quyết như sau: Về quan hệ hôn nhân, chị yêu cầu được ly hôn với anh Lý Văn M. Về quan hệ con chung, khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng người con chung tên Lý Quốc T, sinh ngày 06 tháng 10 năm 2013 đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được, chị không yêu cầu anh Lý Văn M cấp dưỡng nuôi con, mặt dù đã được Tòa án giải thích về cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ, chị cam kết không yêu cầu giải quyết, ngoài ra chị không yêu cầu giải quyết gì khác.
* Tại Đơn yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt ngày 08 tháng 3 năm 2025, bị đơn anh Lý Văn M trình bày như sau:
Anh đi làm ăn xa nên không tham gia giải quyết vụ án được, anh làm đơn này yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt anh và cam kết không yêu cầu, khiếu nại về sau.
* Tại Văn bản trình bày nguyện vọng ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Lý Quốc T như sau:
Lý Quốc T con của chị Khưu Thị Mỹ H, địa chỉ: T1, ấp L2, xã HY, huyện AB, tỉnh Kiên Giang. Nơi cư trú: ấp BL, xã MH, huyện CT, tỉnh Kiên Giang và anh Lý Văn M, địa chỉ: T1, ấp L2, xã HY, huyện AB, tỉnh Kiên Giang trình bày ý kiến nguyện vọng như sau. Từ khi cha và mẹ của Lý Quốc T không còn chung sống với nhau thì Lý Quốc T sống chung với mẹ là chị Khưu Thị Mỹ H. Nếu mẹ cha của Lý Quốc T ly hôn thì Lý Quốc T có nguyện vọng chung sống với mẹ là chị Khưu Thị Mỹ H. Lý Quốc T cam kết lời trình bày mình là đúng sự thật và chịu trách nhiệm về lời trình bày của mình.
* Tại Biên bản xác minh ngày 10 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang về nguyên nhân mâu thuẫn và tình trạng hôn nhân:
Chị Khưu Thị Mỹ H và anh Lý Văn M xác lập hôn nhân và sinh sống, làm việc tại ấp L2, xã HY, huyện AB, tỉnh Kiên Giang. Chị Khưu Thị Mỹ H và anh Lý Văn M chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn trong làm ăn kinh tế gia đình nên anh chị đã sống ly thân khoảng 02 năm nay. Anh chị có 01 người con chung, hiện nay đang chung sống với chị Khưu Thị Mỹ H.
* Tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án gồm: Căn cước công dân Khưu Thị Mỹ H (Bản sao); Giấy chứng nhận kết hôn Khưu Thị Mỹ H và Lý Văn M số: 20/2014 ngày 13 tháng 02 năm 2014 của Ủy ban nhân dân xã HY, huyện AB, tỉnh Kiên Giang (Bản chính); Giấy khai sinh tên Lý Quốc T, sinh ngày 06/10/2013 (Bản sao); Đơn xin xác nhận tình trạng cư trú của đương sự ngày 06 tháng 6 năm 2024 của chị Khưu Thị Mỹ H (Bản chính); Biên bản xác minh ngày 10 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (Bản chính); Bản trình bày nguyện vọng ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Lý Quốc T (Bản chính).
* Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị Khưu Thị Mỹ H yêu cầu được ly hôn với anh Lý Văn M. Về quan hệ con chung, khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng người con chung tên Lý Quốc T, sinh ngày 06 tháng 10 năm 2013 đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được theo nguyện vọng của con Lý Quốc T, chị không yêu cầu anh Lý Văn M cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ, chị Khưu Thị Mỹ H tự xác định không có tài sản chung, không có nợ người khác, người khác không nợ anh chị và chị cam kết không yêu cầu giải quyết, ngoài ra chị không yêu cầu gì khác.
Bị đơn anh Lý Văn M gửi đơn yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án thực hiện các trình tự thủ tục tố tụng đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo pháp luật luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Lý Văn M gửi đơn yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt đề nghị xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Xét đơn khởi kiện của chị Khưu Thị Mỹ H yêu cầu được ly hôn với anh Lý Văn M và nuôi con là có căn cứ chấp nhận nên đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Khưu Thị Mỹ H được ly hôn với anh Lý Văn M. Về quan hệ con chung, khi anh chị ly hôn giao người con chung của anh chị cho chị Khưu Thị Mỹ H tiếp tục nuôi dưỡng theo nguyện vọng của con chung anh chị tên Lý Quốc T. Về cấp dưỡng nuôi con, chị Khưu Thị Mỹ H không yêu cầu đề nghị không xem xét. Về tài sản chung và nợ, chị Khưu Thị Mỹ H tự xác định không có, anh chị không yêu cầu giải quyết đề nghị miễn xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Khưu Thị Mỹ H yêu cầu được ly hôn với bị đơn anh Lý Văn M, tranh chấp về nuôi con. Bị đơn cư trú tại: ấp L2, xã HY, huyện AB, tỉnh Kiên Giang nên xác định đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Lý Văn M biết và ấn định thời gian để anh có ý kiến về việc chị Khưu Thị Mỹ H khởi kiện yêu cầu được ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Lý Văn M thì anh Lý Văn M không có ý kiến yêu cầu gì bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Toà án tổ chức và thông báo cho các bên đương sự để tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì anh Lý Văn M gửi đơn yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt. Như vậy, đây thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung, đồng thời tại phiên tòa hôm nay, chị Khưu Thị Mỹ H không yêu cầu hoãn phiên tòa. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Lý Văn M theo quy định tại khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét về quan hệ hôn nhân, chị Khưu Thị Mỹ H và anh Lý Văn M chung sống với nhau vào năm 2013, đến năm 2014 đi đăng ký kết hôn và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Ủy ban nhân dân xã HY, huyện AB, tỉnh Kiên Giang là một trong những nơi anh chị cư trú) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 20/2014 ngày 13 tháng 02 năm 2014, anh chị đảm bảo các điều kiện kết hôn khác theo quy định của pháp luật là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét khởi kiện của chị Khưu Thị Mỹ H yêu cầu được ly hôn với anh Lý Văn M, quá trình chung sống anh Lý Văn M không lo làm ăn chăm lo cho gia đình thường xuyên cự cãi về vấn đề kinh tế gia đình nên chị và anh Lý Văn M sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay, chị thấy chị và anh Lý Văn M không còn tình cảm vợ chồng, chị yêu cầu được ly hôn với anh Lý Văn M thì anh Lý Văn M không có yêu cầu gì, không quan tâm đến việc chị Khưu Thị Mỹ H yêu cầu ly hôn với anh là vi phạm nghĩa vụ giữa vợ chồng thời gian dài, vợ chồng không chăm sóc, lo lắng lẫn nhau mà anh chị không có biện pháp hàn gắn để chung sống với nhau nên hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, chị Khưu Thị Mỹ H cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh Lý Văn M. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị Kiểm sát viên và yêu cầu khởi kiện của chị Khưu Thị Mỹ H, cho chị Khưu Thị Mỹ H được ly hôn với anh Lý Văn M là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ con chung, chị Khưu Thị Mỹ H và anh Lý Văn M có 01 người con chung tên Lý Quốc T, sinh ngày 06 tháng 10 năm 2013 hiện nay sống chung với chị Khưu Thị Mỹ H. Khi ly hôn, chị Khưu Thị Mỹ H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng người con chung; anh Lý Văn M không có ý kiến yêu cầu gì khác, đồng thời người con chung của anh chị từ khi anh chị ly thân đến nay chung sống với chị Khưu Thị Mỹ H, đã thích nghi với cuộc sống hiện tại và có nguyện vọng chung sống với chị Khưu Thị Mỹ H. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, yêu cầu của chị Khưu Thị Mỹ H và ý kiến nguyện vọng của con anh chị, giao người con chung của anh chị tên Lý Quốc T, sinh ngày 06 tháng 10 năm 2013 cho chị Khưu Thị Mỹ H được tiếp tục nuôi dưỡng đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được theo nguyện vọng của con anh chị tên Lý Quốc T là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình;
Về cấp dưỡng nuôi con, chị Khưu Thị Mỹ H không yêu cầu anh Lý Văn M cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản chung và nợ, chị Khưu Thị Mỹ H tự xác định, chị và anh Lý Văn M không có tài sản chung, anh chị không có nợ người khác, người khác không có nợ anh chị và chị cam kết không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp chia tài sản chung và nợ thì được xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238, Điều 241, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 51, Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTV QH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Khưu Thị Mỹ H được ly hôn với anh Lý Văn M.
2. Về quan hệ con chung: Giao người con chung của anh chị tên Lý Quốc T, sinh ngày 06 tháng 10 năm 2013 cho chị Khưu Thị Mỹ H được tiếp tục nuôi dưỡng đến tròn 18 tuổi tự lao động sinh sống được theo nguyện vọng của con anh chị tên Lý Quốc T và hiện nay đang chung sống với chị Khưu Thị Mỹ H.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Khưu Thị Mỹ H không yêu cầu anh Lý Văn M cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
4. Về tài sản chung và nợ: Chị Khưu Thị Mỹ H tự xác định, chị và anh Lý Văn M không có tài sản chung, anh chị không có nợ người khác, người khác không có nợ anh chị và chị cam kết không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp chia tài sản chung và nợ thì được xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.
5. Về án phí: Buộc chị Khưu Thị Mỹ H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0003632 ngày 04 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Chị Khưu Thị Mỹ H đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 24/3/2025. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện An Biên; - Chi cục THADS huyện An Biên; - Các đương sự; - UBND xã Hưng Yên, An Biên, Kiên Giang; - Lưu: HSVA,VP (Kiều). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Thảo |