- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị H - Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH P | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2025/HNGĐ-ST Ngày 28 tháng 3 năm 2025 V/v “tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH P
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa Phiên toà: Ông Nguyễn Viết Anh;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hảo;
Bà Nguyễn Thị Phẩm
- T ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa - T ký Toà án nhân dân tỉnh P.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Hoa- Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh P tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2025 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 03 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1985,
ĐKHKTT: khu L, xã H, thị xã P, tỉnh P.
Hiện nay đang ở nước ngoài.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1980,
ĐKHKTT: khu L, xã H, thị xã P, tỉnh P.
(Các đương sự đều vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Hoàng Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: chị H và anh T tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau ngày 20/12/2012 tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã P, tỉnh P. Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc. Sau đó một thời gian chị H đi lao động tại nước ngoài, từ đó đến nay giữa vợ chồng anh chị Tờng xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
Về con chung: chị H xác định trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 22/2/2013. Khi ly hôn chị H đề nghị Tòa án giao cháu A cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con: chị H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000đ/tháng cho đến khi cháu A trưởng thành. Phương thức cấp dưỡng: định kỳ hàng tháng.
Về tài sản chung anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ, công sức đóng góp: chị H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: chị H tự nguyện xin chịu toàn bộ.
- Bị đơn anh Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã trình bày quan điểm tại Bản tự khai đề ngày 04/3/2025; cụ thể:
Về quan hệ hôn nhân: việc chị H xin ly hôn anh T đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Về con chung: anh T xác định vợ chồng anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 22/2/2013. Hiện cháu A đang được anh chăm sóc, nuôi dưỡng trực tiếp. Anh T nhất trí với yêu cầu về con chung của chị H. Anh đề nghị Tòa án giao cháu A cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi anh và chị H ly hôn.
Về cấp dưỡng nuôi con: anh T nhất trí với sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của chị H.
Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo đúng quy định trình tự của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H. Về quan hệ hôn nhân: cho anh T và chị H ly hôn. Về con chung: giao cháu Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 22/2/2013 cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con: chị H cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000đ/tháng cho đến khi cháu A trưởng thành. Về án phí: chị H phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Xét đơn khởi kiện đề ngày 12/12/2024 của chị H có chứng thực của Văn phòng kinh tế - văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc. Căn cứ khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh P.
Trong vụ án này chị H không có mặt ở Việt Nam nên Tòa án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do vậy, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử là đúng với quy định của pháp luật.
Chị H và anh T đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, anh chị đăng ký kết hôn với nhau ngày 20/12/2012 tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã P, tỉnh P. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, thời gian đầu cuộc sống hôn nhân giữa vợ chồng anh chị luôn hòa thuận, yêu Tơng nhau. Từ khi chị H đi nước ngoài đến nay giữa vợ chồng anh chị Tờng xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn trầm trọng không thể giải quyết được. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
Tại bản tự khai anh T trình bày: về việc chị H xin ly hôn anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Hội đồng xét xử thấy rằng H và anh T đã không còn chung sống cùng với nhau, vợ chồng sống xa nhau không có sự quan tâm chia sẻ trong cuộc sống gia đình nên phát sinh nhiều mâu thuẫn. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T là có căn cứ phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó đề nghị xin ly hôn của chị H được chấp nhận.
- Về con chung: hồ sơ vụ án thể hiện chị H, anh T có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 22/2/2013. Sau khi ly hôn chị H đề nghị Tòa án giao cháu A cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh T cũng hoàn toàn nhất trí với yêu cầu khởi kiện về con chung của chị H. Tại đơn trình bày nguyện vọng của mình cháu A thể hiện có mong muốn được ở với bố sau khi bố mẹ ly hôn. Xét thấy cả chị H và anh T đều đồng tình với nhau về vấn đề con chung. Do vậy, cần giao cháu A cho anh T chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi chị H và anh T ly hôn là phù hợp.
- Về cấp dưỡng nuôi con: ghi nhận sự tự nguyện của chị H về việc cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000đ/tháng cho đến khi cháu A trưởng thành. Phương thức cấp dưỡng: định kỳ hàng tháng.
- Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí: chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo đối với Bản án: các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 238; khoản 1, 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Tờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị H.
[1] Về quan hệ hôn nhân: chị Hoàng Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
[2] Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 22/2/2013 cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Chị Hoàng Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền là 3.000.000đ/tháng kể từ tháng 03/2025 cho đến khi cháu A trưởng thành. Phương thức cấp dưỡng: định kỳ hàng tháng.
[3] Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: không đặt ra xem xét giải quyết.
[4] Về án phí ly hôn sơ thẩm: chị Hoàng Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con. Xác nhận chị Hoàng Thị H (do anh Trần Mạnh Cường nộp thay) đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000495 ngày 15/01/2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh P. Chị H còn phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
[5] Về quyền kháng cáo đối với Bản án: anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Thời hạn kháng cáo của chị Hoàng Thị H là 01 (một) tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7a,7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh P; - Cục THADS tỉnh P; - UBND xã H; - Các đương sự; - Lưu: HS - AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Viết Anh |