- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Công ty Cổ phần S - Lê Hoàng P"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần S tiền có ngay.
- Căn cứ chính? Luật tố tụng hành chính; Luật phá sản; Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – KHÁNH HOÀ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2025/DS-ST Ngày 08 - 9 - 2025 V/v: Tranh chấp hợp đồng vay có cầm cố tài sản; Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản. |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – KHÁNH HOÀ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Út và bà Nguyễn Thị Minh Trâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Long – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 – Khánh Hoà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hoà tham gia phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Tường Vi - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Khánh Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 198/2025/TLST-DS ngày 02 tháng 6 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay có cầm cố tài sản; Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2025/QĐST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty cổ phần S tiền có ngay.
Địa chỉ: Số A N, phường T, tỉnh Nghệ An.
Đại diện theo pháp luật: Ông KANOKWATPAISAL NAPAT, chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Hoàn T - Nhân viên Công ty cổ phần S tiền có ngay.
Địa chỉ: B đường N, phường P, tỉnh Khánh Hòa (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Lê Hoàng P, sinh năm 1982 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Tổ dân phố I, phường P, tỉnh Khánh Hòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Công ty Cổ phần S tiền có ngay (gọi tắt là Công ty S) có giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần do Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh N cấp giấy chứng nhận đăng ký thay đổi lần thứ 8, ngày 10/12/2024 và có Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh do Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh N cấp giấy chứng nhận đăng ký thay đổi lần thứ 3, ngày 14/4/2024. Công ty hoạt động nhiều lĩnh vực, trong đó có cầm cố tài sản.
Ngày 28/02/2024, Công ty S - Chi nhánh P2 và ông Lê Hoàng P có ký kết Hợp đồng cầm cố tài sản số PRM240201020NA21X, loại hợp đồng cầm xe mượn lại xe, phụ lục hợp đồng cầm cố và Phiếu đăng ký cầm cố xe máy như sau:
Ông P cầm cố tài sản là xe máy hiệu HONDA WINNER X ABS màu ĐỎ XANH TRẮNG ĐEN, biển số 85B1-869.42, số khung: RLHKC3711MY127685, số máy: KC34E1262183 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 006264 do Phòng C Công an tỉnh N cấp cho ông P ngày 21/9/2021 để vay số tiền là 10.797.872,34 đồng.
Mục đích cầm cố: Phục vụ tiêu dùng cá nhân và kinh doanh.
Thời hạn cầm cố 12 tháng (365 ngày), với mức lãi suất cố định 1,1%/tháng trên dư nợ thực tế tính từ ngày ký hợp đồng và nhận tiền. Thanh toán định kỳ hàng tháng (bao gồm gốc và lãi trong hạn); Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cầm cố trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
Ngoài ra còn các khoản Phí quản lý hồ sơ cố định: 0,5%/ tháng trên dư nợ thực tế tính từ ngày ký hợp đồng và nhận tiền; P1 tổ chức kiểm tra giá trị tài sản ban đầu; Phí đăng ký và xóa giao dịch bảo đảm; Phí trả nợ trước hạn: 7% trên dư nợ thực tế chưa đến hạn (thu khi khách hàng có nguyện vọng muốn trả nợ trước hạn); Phạt vi phạm kỳ hạn trả nợ với mức phí: 8% trên dư nợ thực tế chưa đến hạn; Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại là 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm. Trong trường hợp nghĩa vụ vi phạm là nghĩa vụ thanh toán đúng hạn là khách hàng sẽ thanh toán giá trị phạt vi phạm bằng 8% tổng số tiền gốc theo kỳ mà khách hàng chưa thanh toán tại thời điểm áp dụng quy định phạt vi phạm này.
Công ty S nhận tài sản bảo đảm là xe máy của ông P đã tiến hành đăng ký biện pháp bảo đảm hợp đồng.
Do nhu cầu cần có xe đi lại hàng này nên Công ty có ký giấy cho ông Lê Hoàng P mượn lại xe sử dụng. Trong thỏa thuận mượn tài sản có quy định rõ thời hạn mượn xe từ ngày 28/02/2024 đến ngày 28/3/2024, địa điểm trả xe là tại Văn phòng đại diện của Công ty là chi nhánh N - thành phố P. Ông P có cam kết, rõ ràng trong thỏa thuận mượn tài sản là “hoàn trả lại tài sản mượn đúng thời hạn và địa điểm đã thỏa thuận”.
Quá trình thực hiện các hợp đồng, ông P chỉ mới thanh toán được tổng số tiền bao gồm gốc lãi là 9.590.000 đồng. Cụ thể như sau: tiền gốc: 5.803.811 đồng; tiền lãi trong hạn 1.1%/tháng: 573.871 đồng; phí quản lí hồ 0.5%/tháng: 260.850 đồng; phí mượn xe: 2.699.000 đồng; lãi quá hạn 150%: 252.000 đồng.
Tính đến thời điểm ngày 08/9/2025, ông P trễ hạn 344 ngày. Hiện tại, ông Lê Hoàng P đã không thực hiện nghĩa vũ thanh toán như đã ký kết. Công ty nhiều lần tạo điều kiện để ông Lê Hoàng P thanh toán, tuy nhiên ông P vẫn không hợp tác. Vì vậy, Công ty ủy quyền cho ông làm đơn khởi kiện đến Tòa án yêu cầu ông Lê Hoàng P phải thanh toán số tiền như trên hợp đồng và thỏa thuận. Tổng số tiền bao gồm gốc lãi phát sinh tính đến ngày 08/9/2025 là 6.047.150 đồng (Sáu triệu, không trăm bốn mươi bảy nghìn, một trăm năm mươi đồng) bao gồm: gốc, lãi và lãi phát sinh của hồ sơ khách hàng. Trong đó: tiền gốc: 4.994.060 đồng; tiền lãi trong hạn 1.1%/tháng: 220.629 đồng; lãi quá hạn 150% 832.461 đồng. Các khoản chi phí này đều theo hợp đồng phụ lục cầm cố của ông Lê Hoàng P
Ngoài ra ông Lê Hoàng P còn phải tiếp tục chịu lãi suất,phát sinh theo hợp đồng cầm cố đã ký kể từ ngày 09/09/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ.
Bị đơn ông Lê Hoàng P: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông P nhưng ông P không đến Tòa án làm việc và không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của BLTTDS, xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật là có cơ sở.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngoài ra, đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Lời trình bày và kết quả tranh tụng của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng.
Xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Công ty S khởi kiện yêu cầu ông P phải thanh toán số tiền vay đã nhận khi cầm cố tài sản và trả lại xe đã mượn. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng vay có cầm cố tài sản; Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản” theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại phường P, tỉnh Khánh Hòa nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 5 – Khánh Hoà theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án; điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân; Nghị quyết số 81/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực;
Về việc vắng mặt của bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bị đơn không đến tham gia tố tụng, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty S đối với ông P, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ vào Hợp đồng cầm cố tài sản, số hợp đồng: PRM240201020NA21X (mục đích cầm cố tài sản: phục vụ tiêu dùng cá nhân và kinh doanh), phụ lục hợp đồng cầm cố, Phiếu đăng ký cầm cố xe máy (để vay vốn theo hình thức cầm cố tài sản), Giấy mượn xe, văn bản chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Ngày 28/02/2024, giữa Công ty S và ông Lê Hoàng P có thỏa thuận và ký kết hợp đồng cầm cố tài sản là xe máy hiệu HONDA WINNERX màu XANH TRẮNG ĐEN, biển số 85B1-869.42, Công ty S đã giao tiền (hình thức chuyển khoản) và ông P đã nhận đủ số tiền trên. Hợp đồng cầm cố giữa Công ty S và ông P được ký kết trên cơ sở tự nguyện, mục đích, nội dung và hình thức đúng quy định của pháp luật nên xác định Hợp đồng hợp pháp là cơ sở giải quyết quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
Quá trình thực hiện các hợp đồng, ông P mới thanh toán cho Công ty S số tiền 9.590.000 đồng. Do ông P đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán mặc dù được Công ty S nhắc nhở nhiều lần, vi phạm Hợp đồng đã ký ông P là người có lỗi nên phải chịu mọi hậu quả phát sinh từ hợp đồng và theo quy định của pháp luật.
Tính đến ngày 08/9/2025, ông P còn nợ Công ty số tiền là 6.047.150 đồng (Sáu triệu, không trăm bốn mươi bảy nghìn, một trăm năm mươi đồng) bao gồm: gốc, lãi và lãi phát sinh của hồ sơ khách hàng. Trong đó: tiền gốc: 4.994.060 đồng; tiền lãi trong hạn 1.1%/tháng: 220.629 đồng; lãi quá hạn 150% 832.461 đồng. Như vậy, yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên cần được chấp nhận, ông P phải có nghĩa vụ trả cho Công ty SAWAD các khoản tiền trên.
Đối với yêu cầu: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông P còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản tiền nợ gốc theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng cầm cố cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Xét thấy yêu cầu này phù hợp với các nội dung mà các bên đã thỏa thuận nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với tài sản cầm cố là xe máy hiệu HONDA WINNERX màu XANH TRẮNG ĐEN, biển số 85B1-869.42và các khoản phí chưa thanh toán mà Công ty S và ông P đã ký tại Hợp đồng cầm cố, Phụ lục hợp đồng cầm cố, Giấy mượn xe do Công ty S không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ghi nhận ý kiến của Công ty S về việc sau khi ông P thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Công ty S sẽ trả lại cho ông P bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy cho ông P và thực hiện thủ tục xóa đăng ký tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông P nhưng ông P không có văn bản trình bày ý kiến và cũng không phản đối những tình tiết, sự kiện cũng như những tài liệu, chứng cứ do Công ty S xuất trình nên có cơ sở khẳng định ông P đã từ bỏ quyền của mình được pháp luật quy định.
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với những nhận định nêu trên nên được chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 271, 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án; điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân; Nghị quyết số 81/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực;
Căn cứ các Điều 309, 310, 311, 313, 316, 357, 463, 466, 468, 470, 494, 496, 497 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần S tiền có ngay.
2. Buộc ông Lê Hoàng P có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty cổ phần S tiền có ngay số tiền tính đến ngày 08/9/2025 là 6.047.150 đồng (Sáu triệu, không trăm bốn mươi bảy nghìn, một trăm năm mươi đồng) bao gồm: gốc, lãi và lãi phát sinh của hồ sơ khách hàng. Trong đó: tiền gốc: 4.994.060 đồng; tiền lãi trong hạn 1.1%/tháng: 220.629 đồng; lãi quá hạn 150% 832.461 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Lê Hoàng P còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản tiền nợ gốc theo mức lãi suất Công ty cổ phần S tiền có ngay và ông P thỏa thuận trong Hợp đồng cầm cố cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
Ngay sau khi ông Lê Hoàng P thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Công ty cổ phần S tiền có ngay có nghĩa vụ giao trả cho ông P bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 006264 do Phòng C Công an tỉnh N cấp cho Ông Lê Hoàng P ngày 21/9/2021 và thực hiện thủ tục xóa đăng ký tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí:
Ông Lê Hoàng P phải chịu 302.358 đồng (Ba trăm lẻ hai nghìn, ba trăm năm mươi tám đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
H lại cho Công ty cổ phần S tiền có ngay số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001320 ngày 27/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 5- Khánh Hoà).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hoà; - VKSND KV5 – Khánh Hoà; - THADS tỉnh Khánh Hoà; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Dung |