vanban.org

Bản án 28/2024/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Nguyễn Thị Thảo V.

Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Thảo V và anh Trần Nguyễn Anh V1 được ly hôn. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "V-V1-Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Nguyễn Thị Thảo V.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỐNG NHẤT
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 28-6-2024
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thùy Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Chúc Ngân

Bà Cao Thị Kim Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường B - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 202/ 2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 01 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 62/2024/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thảo V, sinh năm 1989; Địa chỉ: Số C, tổ D, khu phố T, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Vắng mặt)

2. Bị đơn: Anh Trần Nguyễn Anh V1, sinh năm 1985; Địa chỉ: Số C, ấp D, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Vắng mặt)

3. Người làm chứng: Ông Trần Đức C, sinh năm 1960; Địa chỉ: Số C, ấp D, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 12 tháng 01 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn - chị Nguyễn Thị Thảo V trình bày:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thảo V và anh Trần Nguyễn Anh V1 quen biết, tìm hiểu và yêu nhau được khoảng một năm thì tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 27/11/2018.

Theo chị V, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến khoảng đầu năm 2023 thì mâu thuẫn vợ chồng bắt đầu phát sinh và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân là do chị V phát hiện anh V1 có sử dụng chất cấm (ma túy) dẫn đến việc anh V1 có những biểu hiện bất thường như nói nhảm, chửi bới cả đêm, … làm ảnh hưởng đến cuộc sống vợ chồng, chị V đã khuyên anh V1 thay đổi nhưng không được. Đến khoảng tháng 5/2023, chị V đã nộp đơn ly hôn với anh V1 nhưng vì muốn cho anh V1 cơ hội để thay đổi nên chị V đã rút đơn khởi kiện và Tòa án đã ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Tuy nhiên, sau đó vợ chồng chỉ về chung sống với nhau được khoảng hai tháng thì anh V1 lại tái sử dụng ma túy dẫn đến việc vợ chồng lại lớn tiếng cãi nhau làm cho tình cảm vợ chồng bị rạn nứt mà không thể hàn gắn được. Từ khoảng tháng 7/2023 cho đến nay vợ chồng đã không còn sống chung với nhau (anh V1 về xã G sống chung với cha mẹ đẻ), vợ chồng không ai quan tâm đến ai và không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng. Mặc dù thi thoảng anh V1 có đến chở con về thăm ông bà nội nhưng vợ chồng cũng không nói chuyện với nhau để giải quyết mâu thuẫn. Nay chị V nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn và không có khả năng hàn gắn đoàn tụ nên chị V yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Nguyễn Anh V1.

- Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là cháu Trần Ngọc Bảo A, sinh ngày 16/10/2019 và cháu Trần Ngọc Bảo N, sinh ngày 20/11/2022, hiện các con đều đang sống chung với chị V. Khi ly hôn, chị V yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai con chung. Chị V không yêu cầu anh V1 cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thảo V khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn - anh Trần Nguyễn Anh V1 vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án được thực hiện đúng với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng cả nguyên đơn và bị đơn đều không đến tham dự (nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không rõ lý do) nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung vụ án:

+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị Thảo V và anh Trần Nguyễn Anh V1 được ly hôn.

+ Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Trần Ngọc Bảo A, sinh ngày 16/10/2019 và cháu Trần Ngọc Bảo N, sinh ngày 20/11/2022 cho chị V được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời anh V1 không phải cấp dưỡng nuôi con do chị V không yêu cầu.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét.

+ Về án phí: Chị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn và tranh chấp về người trực tiếp nuôi con chung với bị đơn, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo kết quả xác minh, hiện bị đơn đang cư trú tại xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc xét xử vắng mặt các đương sự: Tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt (nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không rõ lý do). Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thảo V và anh Trần Nguyễn Anh V1 tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 27/11/2018, căn cứ Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đây được xem là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, nhận thấy: Chị V xác định tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ không có, chị V và anh V1 đã không còn sống chung với nhau từ khoảng tháng 7/2023 cho đến nay, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ và cùng nhau chia sẻ công việc trong gia đình. Do quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn nhưng chị V và anh V1 đều không trình báo nên chính quyền địa phương không nắm được mâu thuẫn giữa các bên, tuy nhiên lời khai của chị V mặc dù không được anh V1 thừa nhận nhưng phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án (Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 114/2023/QĐST-HNGĐ ngày 26/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất) và lời khai của người làm chứng:“... Đầu năm 2023 đến nay, khi xảy ra mâu thuẫn thì anh V1 chuyển về sống cùng gia đình tại C, ấp D, xã G, huyện T … ”. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần tổ chức hòa giải nhưng anh V1 đều không đến thể hiện việc anh V1 không có thiện chí hàn gắn tình cảm với chị V.

Từ các phân tích trên, xét mâu thuẫn giữa chị V và anh V1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị V là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.

Về con chung: Chị V và anh V1 có hai con chung là cháu Trần Ngọc Bảo A, sinh ngày 16/10/2019 và cháu Trần Ngọc Bảo N, sinh ngày 20/11/2022.

Xét yêu cầu của nguyên đơn: Lời khai của người làm chứng xác định: “... chị V và hai con vẫn sống cùng cha mẹ đẻ tại thị trấn D, huyện T ...”. Như vậy, hiện các con chung đang sống cùng với chị V và chị V đảm bảo điều kiện chăm sóc cho con chung. Do đó, để đảm bảo điều kiện phát triển bình thường, khỏe mạnh về thể chất và tinh thần, không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại của con trẻ, Hội đồng xét xử xét cần tiếp tục giao các con chung cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng: Chị V hiện có nơi ở, công việc và thu nhập ổn định, đủ điều kiện để chăm sóc cho con chung. Mặc dù đã được Tòa án giải thích pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng nhưng chị V không yêu cầu nên tạm thời anh V1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị V xác định không có nợ chung và tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh V1 vắng mặt nên không có ý kiến trình bày nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Trường hợp các đương sự không tự thỏa thuận và có yêu cầu thì được quyền liên hệ với Tòa án có thẩm quyền để khởi kiện bằng một vụ kiện khác về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thảo V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất về đường lối giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 238; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Nguyễn Thị Thảo V.

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Thảo V và anh Trần Nguyễn Anh V1 được ly hôn.

2. Về con chung:

2.1. Giao cháu Trần Ngọc Bảo A, sinh ngày 16/10/2019 và cháu Trần Ngọc Bảo N, sinh ngày 20/11/2022 cho chị Nguyễn Thị Thảo V được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

2.2 Anh Trần Nguyễn Anh V1 được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

2.3 Tạm thời anh Trần Nguyễn Anh V1 không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Nguyễn Thị Thảo V không yêu cầu.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thảo V phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí sang nộp án phí theo biên lai thu số 0007631 ngày 25 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Chị Nguyễn Thị Thảo V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cỡ chữ