- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Trọng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự - phạm tội tàng trữ trái ph…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Trọng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2024/HSST Ngày 17-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Triều. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Giang. Ông Nguyễn Ngọc Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quang Nhật là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Tính - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2024/TLST-HS, ngày 08 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hồ Trọng N, sinh ngày 10 tháng 6 năm 1997 tại tỉnh Cà Mau; nơi ĐKHKTT: Khóm B, Phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Khóm G, Phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Việt H và bà Nguyễn Hồng T; bị cáo có vợ và một con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17 tháng 8 năm 2024 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 05 phút ngày 17 tháng 8 năm 2024, Tổ công tác Đồn Biên phòng C phát hiện bị cáo Hồ Trọng N điều khiển xe mô tô hiệu AIR BLADE, biển số 65T2-2691 đang lưu thông trên tuyến lộ từ Khóm B đến Khóm C, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau có nhiều biểu hiện nghi vấn nên tổ công tác tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện bên trong quần lót của N đang mặc có 01 bọc được quấn băng keo màu
- 1 -
đen, bên trong có hai túi nilon màu trắng có chứa các tinh thể màu trắng đục, dạng rắn; 04 viên nén hình ngũ giác, màu xám còn nguyên vẹn; 01 viên nén hình ngũ giác, màu xám bị vỡ, nghi là ma túy nên đã tiến hành niêm phong thu giữ và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Qua làm việc, bị cáo Hồ Trọng N thừa nhận số ma túy trên là của Nguyễn cất G để sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số 476/KL-KTHS ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận:
- Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilon màu trắng được bóp kín miệng, niêm phong trong phong bì hình chữ nhật của Đồn Biên phòng C gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,7360 gam, loại Ketamine.
- 04 viên nén màu xám và 01 viên nén màu xám bị vỡ thành ba phần không đều nhau, được niêm phong trong phong bì hình chữ nhật của Đồn Biên phòng C gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,2618 gam, loại MDMA.
Tại Cáo trạng số 27/CT-VKS, ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đã truy tố bị cáo Hồ Trọng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hồ Trọng N phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy và áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Trọng N từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Bị cáo mua ma tuý của một người lạ ở Phường I thành phố C để sử dụng, vào ngày 17 tháng 8 năm 2024 bị cáo điều khiển xe mang theo ma tuý đến thị trấn C Vàm để cùng sử dụng với người bạn quen qua mạng xã hội tên Z là Hạo T1, khi bị cáo đến thị trấn C, huyện P bị Đồn Biên phòng C kiểm tra và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Bị cáo thừa nhận do nghiện ma tuý nên bị cáo mua ma tuý để sử dụng. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- 2 -
Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 17 tháng 8 năm 2024 của Đồn Biên phòng C, phù hợp với vật chứng đã thu giữ và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định bị cáo có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy loại MDMA có khối lượng 2,2618 gam và loại Ketamine có khối lượng 2,7360 gam nhằm mục đích để sử dụng. Bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, Cáo trạng số 27/CT-VKS, ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đã truy tố bị cáo Hồ Trọng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có cơ sở, đúng pháp luật, không oan cho bị cáo.
Xét tính chất mức độ hành vi do bị cáo gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, xâm phạm an ninh trật tự xã hội; bị cáo nhận thức và biết được việc tàng trữ và sử dụng ma túy tạo điều kiện làm gia tăng tệ nạn nghiện hút ma túy và còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Do đó, cần có một mức án nghiêm khắc đối với bị cáo để bị cáo lao động, học tập trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần hình phạt vì bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo cáo có công với Nhà nước, bà cố của bị cáo là bà Đào Thị N1 được Nhà nước phong tặng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, ông ngoại là ông Nguyễn Tấn S được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt như trên đối với bị cáo có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vật chứng của vụ án: 01 phong bì hoàn mẫu số 476/KL-KTHS ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh C, bên trong gồm: 2,1158 gam tinh thể màu trắng; phong bì thư hình chữ nhật của Đồn Biên phòng C; 02 túi nilon màu trắng dùng để chứa tinh thể màu trắng. Các vật chứng này không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô hiệu AIR BLADE, biển số 65T2 - 2691, 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xr màu trắng, qua điều tra xác đinh đây là tài sản của bị cáo Hồ Trọng N, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại cho bị cáo Nguyễn L phù hợp nên không xem xét.
Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo Hồ Trọng N phải nộp 200.000đ.
- 3 -
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Hồ Trọng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Bị cáo Hồ Trọng N 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17 tháng 8 năm 2024.
2. Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì hoàn mẫu số 476/KL-KTHS ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh C, bên trong gồm: 2,1158 gam tinh thể màu trắng; phong bì thư hình chữ nhật của Đồn Biên phòng C; 02 túi nilon màu trắng dùng để chứa tinh thể màu trắng.
Vật chứng hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 18/QĐ-VKS ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân và biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08 tháng 11 năm 2024 giữa Công an huyện P và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân.
3. Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Hồ Trọng N phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
| - 4 - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Việt T2 |