- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Duy L tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt Phạm Duy L 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15 tháng 9 năm 2023.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2024/HS-ST Ngày 01 - 02 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Sơn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Tòng
Ông Lê Thế Hải
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Viết Chiến – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân
thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham
gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Duyến – Kiểm sát viên.
Trong ngày 01 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST- HS ngày 19 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Duy L, sinh ngày 05 tháng 10 năm 1989 tại xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn L (đã chết) và bà Lê Thị N; có vợ là Lê Thị H và 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2016.
Tiền án, Tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 27/9/2017 bị TAND quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội Cướp tài sản, theo bản án số 277/2017/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt ngày 12/01/2019.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/9/2023, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thị xã Nghi Sơn. Có mặt.
- Người làm chứng: Anh Bùi Văn Q, sinh năm 1977. Vắng mặt.
Nơi cư trú: TDP H, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 15 phút, ngày 15/9/2023, Tổ công tác thuộc đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã Nghi Sơn phối hợp với Công an phường Hải Châu tuần tra làm nhiệm vụ tại tổ dân phố Nam Châu, phường Hải Châu, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã tiến hành kiểm tra hành chính đối với Phạm Duy L, phát hiện bên trong túi áo bên phải của L có 01 túi nilon màu trắng, viền đỏ, bên trong túi có 02 gói giấy màu trắng chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn. Khai thác tại chỗ, L khai chất bột màu trắng ngà, dạng cục vụn trong 02 gói giấy trên là ma túy, loại Heroine, L đang cất giấu trong người để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phạm Duy L về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ, niêm phong số ma túy trong phong bì ký hiệu L1; thu giữ chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04S và chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, biển kiểm soát 29G1-696… kèm theo giấy tờ xe của L để phục vụ công tác điều tra.
Tại Kết luận giám định số 3314/KL-KTHS ngày 19/9/2023, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận: Chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu L1 thu giữ khi bắt quả tang Phạm Duy L gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,158gam, loại Heroine.
Về nguồn gốc ma túy, Phạm Duy L khai trước đó vào sáng ngày 15/9/2023 L đã mua số ma túy trên của một người đàn ông tên T (thường gọi là T T), người ở xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa với giá 500.000 đồng, mục đích để sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang như đã nêu trên.
Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, xác định người tên T mà L khai đã bán ma túy cho Lợi là Hoàng Văn T, sinh năm 1986, trú tại thôn G, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Khám xét khẩn cấp nơi ở của T, Cơ quan điều tra đã tạm giữ số tiền 8.600.000 đồng và 01 điện thoại di động IPhone 11 màu trắng để phục vụ công tác điều tra.
Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập và làm việc với Hoàng Văn T, tuy nhiên T không thừa nhận đã bán ma túy cho Phạm Duy L như L đã khai báo, mà T khai vào ngày 14/9/2023 L có góp tiền cho T mua ma túy về sử dụng và sau khi mua được ma túy thì L đã sử dụng hết số ma túy này, còn T không liên quan gì đến số ma túy L bị bắt quả tang vào ngày 15/9/2023. Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp xác minh giao dịch điện thoại, tài khoản ngân hàng, tài khoản Zalo của T và cho L đối chất với T nhưng không có kết quả. Ngoài lời khai của L ra, thì không còn có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh việc T đã bán trái phép chất ma túy cho L như L đã khai báo. Vì vậy, không có căn cứ xử lý đối với Hoàng Văn T về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Về thu giữ, tạm giữ và xử lý vật chứng, đồ vật, tài liệu:
- Thu giữ khi bắt quả tang Phạm Duy L:
+ 01 túi nilon màu trắng, viền đỏ, bên trong có 02 gói giấy màu trắng chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn (Kết quả giám định là Heroine). (Sau khi giám định ma túy, Cơ quan giám đinh đã hoàn lại toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì ký hiệu L1 và ,132g (không phẩy một ba hai gam) chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn (là mẫu vật còn lại sau giám định). Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá phát hành, được dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh Tiến, Trần Thị Thúy Hằng, Nguyễn Văn Tùng và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá).
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04S, đã qua sử dụng.
(Sau khi giám định điện thoại, Cơ quan giám đinh đã hoàn lại toàn bộ bao gói mở niêm phong và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04S, có số Imei1: 350246950201280, số Imei2: 353931240201284, bên trong có lắp sim in số: 898448000931361116, tương ứng với sim số 0974.898.969, tất cả được cho vào 01 phong bì màu trắng, mặt trước có ghi: Samsung, mặt sau có có 03 hình dấu màu tròn đỏ có nội dung:"Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa", phong bì được dán kín niêm phong bởi chữ ký đứng tên Nguyễn Đăng Đạt, Lê Văn Trắc).
+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, biển kiểm soát 29G1-696…, không có gương chiếu hậu, xe đã qua sử dụng;
+ 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 042… do Công an quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội cấp ngày 04/10/2017 mang tên Nguyễn Anh T;
+ 01 giấy phép lái xe số AN040273 do Sở giao thông vận tải Thanh Hóa cấp ngày 11/3/2010 mang tên Phạm Duy L.
- Thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Văn T:
+ Số tiền 8.600.000 đồng (Tám triệu sáu trăm nghìn đồng).
+ 01 điện thoại di động nhãn nhiệu IPhone 11 màu trắng, đã qua sử dụng;
(Sau khi giám định điện thoại, Cơ quan giám đinh đã hoàn lại toàn bộ bao gói mở niêm phong và 01 điện thoại di động nhãn nhiệu IPhone 11 màu trắng, có số Imei 1: 357818707123729, số Imei2: 357818707059113, bên trong có lắp sim in số 8984048000324456781, tương ứng với sim số 0866.685.126, máy đã qua sử dụng, tất cả được cho vào 01 phong bì màu trắng, mặt trước có ghi: Iphone, mặt sau có có 03 hình dấu màu tròn đỏ có nội dung:"Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa", phong bì được dán kín niêm phong bởi chữ ký đứng tên Nguyễn Đăng Đạt, Lê Văn Trắc.)
Đối với chiếc mô tô nhãn hiệu Honda Dream, quá trình điều tra xác định đây là tài sản của anh Phạm Văn V, sinh năm 1991, trú tại thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa (là em trai L) mua lại của anh Nguyễn Anh T ở quận T, thành phố Hà Nội vào năm 2020, tuy nhiên anh V chưa làm thủ tục sang tên, đổi chủ. Anh V cho L mượn xe đi công việc, V không biết L sử dụng xe mô tô của mình để đi mua ma túy về sử dụng nên không có lỗi. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô và giấy tờ xe cho anh V theo quy định của pháp luật, trả lại giấy phép lái xe hạng A1 cho L (anh V được L ủy quyền nhận hộ giấy phép lái xe).
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn nhiệu IPhone 11 màu trắng và số tiền 8.600.000 đồng thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Văn T, sau khi phục vụ công tác giám định, xét thấy đây không phải là vật chứng vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho Hoàng Văn T theo quy định.
Hiện các vật chứng còn lại đang được bảo quản, chờ xử lý theo quy định.
Tại bản Cáo trạng số 31/CT-VKSNS, ngày 18/01/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn đã truy tố Phạm Duy L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố Phạm Duy L, phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Đề nghị xử phạt bị cáo từ 13 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ.
Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì ký hiệu L1 và 0,132g (không phẩy một ba hai gam) chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn (là mẫu vật còn lại sau giám định).
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04S.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như Cáo trạng đã truy tố; bị cáo không tranh luận với nội dung luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng bị cáo ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng, Quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an thị xã Nghi Sơn, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Căn cứ định tội, định khung hình phạt đối với bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Hồi 11 giờ 15 phút, ngày 15/9/2023, tại tổ dân phố Nam Châu, phường Hải Châu, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Công an thị xã Nghi Sơn phát hiện, bắt quả tang Phạm Duy L đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,158 gam ma túy, loại Heroine, nhằm mục đích sử dụng.
Hành vi tàng trữ 0,158 gam ma túy, loại Heroine, nhằm mục đích sử dụng nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về nguồn gốc ma túy theo lời khai của Phạm Duy L, L mua của Hoàng Văn T. Tuy nhiên, ngoài lời khai của L ra không còn có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh việc T đã bán trái phép chất ma túy cho L. Vì vậy, không có căn cứ xử lý đối với Hoàng Văn T về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây tác hại cho xã hội và làm gia tăng số người nghiện. Ma túy làm hủy hoại sức khỏe, làm mất khả năng lao động, gây mất trật tự an toàn xã hội, làm gia tăng các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, ma túy là nguyên nhân phát sinh ra các tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục, trừng trị bị cáo và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân bị cáo là người có nhân thân xấu.
Tình tiết tăng nặng: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Quyết định hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: HĐXX xét thấy bị cáo phạm tội nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội, bị cáo không có khả năng tự cải tạo nên cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định để giáo dục và trừng trị các bị cáo. Thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam được tính vào thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo.
Hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng:
- Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và ,132g (không phẩy một ba hai gam) chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn (là mẫu vật còn lại sau giám định). Ma túy và vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04S là công cụ phạm tội, nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo bị kết án không thuộc trường hợp được miễn án phí nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố Phạm Duy L, phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Xử phạt Phạm Duy L 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15 tháng 9 năm 2023.
3. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1 khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và ,132g (không phẩy một ba hai gam) chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn (là mẫu vật còn lại sau giám định). Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá phát hành, được dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh Tiến, Trần Thị Thúy Hằng, Nguyễn Văn Tùng và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá.
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04S, có số Imei1: 350246950201280, số Imei2: 353931240201284, bên trong có lắp sim in số: 898448000931361116.
( Các vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng và Phiếu nhập kho số NK2024/46 ngày 23/01/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an thị xã Nghi Sơn và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND thị xã Nghi Sơn; - CQCSĐT CA thị xã Nghi Sơn; - THADS thị xã Nghi Sơn; - Bị cáo; - Nhà tạm giữ CA thị xã Nghi Sơn; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Sơn |