vanban.org

Bản án 28/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng Tuyên án 30/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì giấy có niêm phong số 773MT/PC09 chứa 0,28 gam chất ma tuý Heroin, cùng vỏ bao gói của mẫu vật còn lại sau giám định (Vật chứng có đặc điểm được mô tả tại …

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm. thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Văn Z phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Về quyề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì giấy có niêm phong số 773MT/PC09 chứa 0,28 gam chất ma tuý Heroin, cùng vỏ bao gói của mẫu vật còn lại sau giám định (Vật chứng có đặc điểm được mô tả tại …
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUỶ NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HS-ST
Ngày 30-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐHẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Ngọc Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Bùi Thuý Mở

Ông Phạm Công Hạ

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên Thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 181/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Văn Z, sinh năm 19xx, tại thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn C, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Q và bà Lê Thị H; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 18/10/2023 đến ngày 26/10/2023 chuyển tạm giam; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 18/10/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma tuý Công an huyện Thuỷ Nguyên phối hợp với Công an xã K khi đang làm nhiệm vụ tại khu vực quốc lộ 10 thuộc thôn Chợ T, xã K, huyện Thuỷ Nguyên, Hải Phòng thì phát hiện Lê Văn Z có biểu hiện nghi vấn cất giấu trái phép chất ma tuý. Tiến hành kiểm tra lực lượng Công an thu giữ tại túi quần trước bên phải của Z đang mặc có 02 gói giấy màu trắng (loại giấy vở học sinh) bên ngoài bọc bằng nilon màu tím bên trong chứa chất bột màu trắng (nghi là ma tuý); tạm giữ của 01 xe mô tô nhãn hiệu WAVE, mang BKS: 15G1-569.64 đã qua sử dụng do Z điều khiển, kiểm tra phương tiện không thu giữ được gì. Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, đưa Z cùng vật chứng về Cơ quan điều tra Công an huyện để điều tra, giải quyết. Khám xét khẩn cấp nơi ở và khu vực có liên quan của Lê Văn Z không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan.

Kết luận giám định số 818/TB-KTHS ngày 23/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng: Tinh thể rắn màu trắng trong 02 gói giấy màu trắng (loại giấy vở học sinh) được bọc bên ngoài bằng túi nilon màu tím gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,37 gam, loại Heroine.

Tại Cơ quan điều tra Lê Văn Z khai nhận: bản thân Z nghiện ma tuý Heroine nên Z thường xuyên đi mua ma tuý Heroine để sử dụng. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 18/10/2023, Z điều khiển xe mô tô BKS: 15G1-869.64 từ nhà đi đến khu vực ngõ 30 Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, Hải Phòng tìm mua ma tuý Heronine để sử dụng. Tại đây, Z gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết 02 gói giấy, loại giấy vở học sinh bọc ngoài bằng nilon màu tím bên trong chứa chất bột màu trắng là ma tuý Heroine với giá 200.000đồng/01 gói, tổng là 400.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, Z cất giấu vào trong túi quần phía trước bên phải và điều khiển xe đi về tìm nơi sử dụng. Khoảng 10 giờ 45 phút cùng ngày, Z đi về đến khu vực quốc lộ 10 thuộc thôn Chợ Tổng, xã K, huyện Thuỷ Nguyên, Hải phòng thì bị lực lượng Công an phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng như trên.

Vật chứng, tài liệu, đồ vật thu giữ của vụ án gồm:

- 01 phong bì niêm phong số 818MT/PC09 chứa 0,28 gam chất ma túy Heroine, cùng vỏ bao gói của mẫu vật còn lại sau giám định đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên quản lý.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu WAVE, mang biển kiểm soát: 15G1-869.64 đã qua sử dụng, quá trình điều tra, xác minh chủ sở hữu là anh Nguyễn Huy Cường, sinh năm 1989, nơi cư trú: thôn Trung, xã K, huyện Thuỷ Nguyên, Hải Phòng, Z mượn xe của anh Cường và anh Cường không biết việc Z mượn xe sử dụng vào mục đích đi mua ma tuý nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe cho anh Cường.

Tại Cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 09 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng đã truy tố Lê Văn Z về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn Z đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

Kiểm sát viên sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Văn Z từ (18) tháng đến (24) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 18/10/2023.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án gồm 01 (một) phong bì niêm phong số 818MT/PC09 chứa 0,28 gam chất ma túy Heroine, cùng vỏ bao gói của mẫu vật còn lại sau giám định, đây là vật Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy. Ngoài ra, Kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thủy Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Hành vi, quyết định tố tụng của thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa và lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang phù hợp với Kết luận giám định số 818/KL-KTHS ngày 23/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng, phù hợp với lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ kết luận: Ngày 18/10/2023, Lê Văn Z có hành vi cất giấu trái phép 0,37 gam ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân, bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang tại khu vực quốc lộ 10 thuộc địa phận thôn Chợ Tổng, xã K, huyện Thuỷ Nguyên, Hải Phòng.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc cá nhân không được sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền mà tự ý mua bán, giữ và cất giấu ma túy là trái pháp luật. Nhưng vì bị cáo thường xuyên sử dụng ma túy nên bị cáo vẫn mua và cất giữ ma túy sử dụng cho bản thân. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, kết luận: Bị cáo Lê Văn Z phạm tội phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo. Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về lượng hình: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng tuy nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự song bị cáo là đối tượng thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo riêng bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo không có nghề nghiệp và không có thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án gồm 01 (một) phong bì niêm phong số 818MT/PC09 chứa 0,28 gam chất ma túy Heroine, cùng vỏ bao gói của mẫu vật còn lại sau giám. Xét chất ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy là đúng quy định tại Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật và được quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn Z 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 18/10/2023.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì giấy có niêm phong số 773MT/PC09 chứa 0,28 gam chất ma tuý Heroin, cùng vỏ bao gói của mẫu vật còn lại sau giám định (Vật chứng có đặc điểm được mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng).

- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm. thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Văn Z phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm ngày) kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ