- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Xuân M - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2024/HS-PT Ngày: 23/02/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thanh Hùng
Các Thẩm phán:
Bà Lê Thu Hương
Ông Lê Ngọc Lâm
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Kim Oanh - Thư ký TAND tỉnh Thanh Hoá
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Cù Thị Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 04/2024/TLPT-HS ngày 04/01/2024 đối với bị cáo Lê Xuân M do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 73/2023/HS-ST ngày 01 tháng 12 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện H, tỉnh T.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lê Xuân M, sinh năm 1990 tại huyện H, tỉnh T.
Nơi cư trú: thôn ĐT, xã HT, huyện H, tỉnh T; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân X và bà Lê Thị T1; có vợ Nguyễn Thị T2, có 02 con, (lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2016); tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 25 phút, ngày 19/4/2023 Lê Xuân M điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 36K7 - 4436 lưu thông trên tuyến đường tỉnh lộ 510B theo hướng từ xã HH đi cảng cá xã HT. Khi đi đến địa phận thôn TX, xã HT, huyện H, M đánh lái xe sang trái, đi sang phần đường của xe đi ngược chiều (hướng từ cảng cá xã HT đi xã HH) nên xe mô tô do M điều khiển đã đâm va vào xe mô tô biển kiểm soát: 61S4 - 1701 do ông Trương Đình T3 điều khiển. Hậu quả: làm ông Trương Đình T3 bị thương nặng phải đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh T, đến 21h ngày 19/4/2023 ông T3 chết. Lê Xuân M bị thương rách da trên cung mày trái, đỉnh đầu bên phải có khối sưng nề và bầm tím, sưng nề mặt trái phải đi điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh T và Bệnh viện Hữu nghị V.
Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại tuyến đường ĐT 510B thuộc địa phận thôn TX, xã HT, huyện H, tỉnh T.
+ Hiện trường đã bị xê dịch, tác động do hoạt động đưa người bị nạn đi cấp cứu; phương tiện, dấu vết có liên quan còn nguyên vẹn.
+ Mặt đường nhựa bằng phẳng rộng 8m hai bên lề đường là phần đường đất, trong phạm vi hiện trường không có biển báo hiệu giao thông đường bộ.
+ Lấy cột điện lưới có số hiệu 01TP/220/105 ở lề đường bên phải hướng đi từ xã HT đi xã HH làm điểm mốc.
+ Lấy mép đường nhựa bên phải hướng đi từ xã HT đi xã HH làm mép đường chuẩn cho các chỉ số đo.
+ Ghi nhận dấu vết, phương tiện tại hiện trường như sau:
1. Từ điểm mốc dóng đo vuông góc về hướng Bắc 1280 cm là vị trí tư thế xe mô tô BKS 61S4 - 1701 đang nằm ngã nghiêng phải, đầu xe quay hướng Đông Bắc, đuôi xe quay hướng Tây Nam, đo từ trục bánh trước của xe đến mép đường chuẩn là 275cm, trục bánh sau của xe cách mép đường chuẩn là 215cm.
2. Cách trục bánh trước xe mô tô BKS 61S4-1701về hướng Bắc 40cm tại hiện trường để lại vết bám dính chất màu nâu đỏ dạng máu, vết có kích thước (40x40) cm đo từ tâm của vết đến mép đường chuẩn là 375cm.
3. Liền kề ở phía trước bánh xe mô tô BKS 61S4-1701 để lại xác mảnh nhựa màu đen kim loại và dị vật, vết có kích thước 60x60 cm, đo từ tâm của vùng mảnh vỡ đến mép đường chuẩn là 230cm.
4. Dóng đo vuông góc từ trục bánh trước xe mô tô BKS 61S4-1701 về hướng bắc 15cm là vị trí tư thế xe mô tô BKS 36K7-4436 đang nằm ngã nghiêng phải, đầu xe quay hướng Nam, đuôi xe quay hướng Bắc, đo từ trục bánh trước của xe đến mép đường chuẩn là 190cm, trục bánh sau của xe đến mép đường chuẩn là 185cm.
5. Dóng đo vuông góc từ trục bánh sau xe mô tô BKS 61S4-1701 về hướng Nam 100cm tại hiện trường để lại vết bám dính chất màu nâu đỏ dạng máu, vết có kích thước (145x40)cm đo từ tâm của vết đến mép đường chuẩn là 380cm.
Tại bản Kết luận giám định số 1645/KLGĐTT-PC09 ngày 28/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá: xác định nguyên nhân chết của ông Trương Đình T3 là do tụ máu não, phù não.
Tại bản kết luận giám định số 1765/KL-KTHS ngày 12/5/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá. Kết luận:
+ Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện: mặt và má trái lốp trước, cạnh bên trái vành trước tương ứng hàng chữ “Japanese” xe mô tô BKS 61S4-1701 (ảnh 5,6) với mặt trước ngoài càng trước bên trái, mặt ngoài bên trái trục trước xe mô tô BKS 36K7-4436.
+ Tại thời điểm va chạm hai phương tiện chuyển động ngược chiều nhau.
+ Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trong khu vực vị trí (1,3,4), được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, thuộc phần đường bên phải theo hướng từ xã HT đi xã HH.
+ Không đủ cơ sở xác định vận tốc của hai phương tiện tại thời điểm va chạm.
Tại Kết luận giám định số 2914/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá:
+ Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 02 tệp video của 1 đĩa DVD - R gửi giám định.
Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Lê Xuân M hồi 14h05’ ngày 19/4/2023 tại Bệnh viện đa khoa Hải Tiến, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá. Kết quả: nồng độ cồn trong hơi thở của anh Lê Xuân M là 0,000mg/L.
Kết quả kiểm tra ma tuý trong nước tiểu của Lê Xuân M hồi 14h55’ ngày 19/4/2023 tại Bệnh viện đa khoa Hải Tiến, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá: âm tính với các chất ma tuý.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 73/2023/HS-ST ngày 01/12/2023 của Toà án nhân dân huyện H, tỉnh T quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Xuân M 12 (mười hai) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 11/12/2023, Lê Xuân M kháng cáo với nội dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Lê Xuân M đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm cho bị cáo hưởng án treo vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo bị thương nặng phải phẫu thuật tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh T và Bệnh viện V, con bị bệnh phải điều trị tại bệnh viện Nhi, bố đẻ bị tai biến.
- Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. chấp nhận kháng cáo của bị cáo M, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm và cho bị cáo Lê Xuân M hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, các chứng cứ đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lê Xuân M khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với các tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Khoảng 13 giờ 25 phút, ngày 19/4/2023 Lê Xuân M điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 36K7-4436 lưu thông trên tuyến đường tỉnh lộ 510B theo hướng từ xã HH đi cảng cá xã HT. Khi đi đến địa phận thôn TX, xã HT, huyện H, M đánh lái xe sang trái, đi sang phần đường của xe đi ngược chiều (hướng từ cảng cá xã HT đi xã HH), nên xe mô tô do M điều khiển đã đâm va vào xe mô tô biển kiểm soát: 61S4-1701 do ông Trương Đình T3, sinh năm 1952, trú tại thôn G, xã HT, huyện H điều khiển. Hậu quả làm ông Trương Đình T3 bị thương nặng phải đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh T, đến 21h ngày 19/4/2023 bị tử vong tại gia đình.
Do có hành vi trên, Toà án cấp sơ thẩm xử bị cáo Lê Xuân M tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận; tự nguyện khắc phục hậu quả, đại diện hợp pháp cho người bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo - là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt Lê Xuân M 12 tháng tù là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm Lê Xuân M cung cấp thêm các tài liệu, chứng cứ: Chính quyền địa phương xác nhận Lê Xuân M có hoàn cảnh rất khó khăn, hiện là lao động chính nuôi bố bị tai biến, con nhỏ bị bệnh bẩm sinh. Giấy tờ xác định bị cáo bị tụ máu não phải phẫu thuật tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T, gãy xương hàm trên, gò má, ổ mắt trái phải phẫu thuật tại Bệnh viện Hữu Nghị V, hiện tại vẫn phải tiếp tục theo dõi điều trị chấn thương - là những tình tiết mới được xem xét tại phiên tòa phúc thẩm, quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy bị cáo Lê Xuân M có nhân thân tốt và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, hoàn cảnh gia đình khó khăn là hộ cận nghèo, bị chấn thương nặng hiện vẫn đang tiếp tục điều trị theo phác đồ của Bệnh viện, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục là phù hợp quy định Điều 65 Bộ luật hình sự, như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa là có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Điểm h khoản 2 Điều 23 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Xuân M, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 73/2023/HS-ST ngày 01/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện H: giữ nguyên mức hình phạt và cho Lê Xuân M hưởng án treo.
* Áp dụng: Điểm a khoản 1 Ðiều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Ðiều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
* Xử phạt: Bị cáo Lê Xuân M: 12 (mười hai) tháng tù về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao Lê Xuân M cho Ủy ban nhân dân xã HT, huyện H, tỉnh T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Nếu thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
* Án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - TAND huyện H; - VKSND huyện H; - CQCSĐT Công an huyện H; - CQTHAHS Công an huyện H; - Chi cục THADS huyện H; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Thanh Hùng |