- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Minh Q được quyền ly hôn với bà Nguyễn Thị Hồng P.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| __________ Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST. Ngày: 01 - 4 - 2024. V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ái Mỹ.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Kim Mến.
Bà Trần Thị Tuyết Ngọc.
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Hoàng Bửu – Thư ký viên Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Tài – Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 232/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2023 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Minh Q, sinh năm 1984 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số 86/13 đường Trần Hưng Đạo, ấp H, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng P, sinh năm 1986 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số 37/35 đường Tỉnh lộ 8, ấp Chợ Cũ, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
- Con chung từ đủ 07 tuổi đến dưới 18 tuổi: Phạm Thị Bình Y, sinh ngày 12/8/2006 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số 86/13 Trần Hưng Đạo, ấp H, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 29/11/2023, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, chứng cứ có trong hồ sơ, nguyên đơn ông Phạm Minh Q trình bày: Ông
Phạm Minh Q kết hôn với bà Nguyễn Thị Hồng P vào năm 2005. Đên năm 2008 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Quá trình chung sống đến năm 2010 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn kéo dài đến tháng 9 năm 2023, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, không còn sống chung, nên ông Q yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà P.
Về con chung: Ông Phạm Minh Q và bà Nguyễn Thị Hồng P có một người con chung tên Phạm Thị Bình Y, sinh ngày 12/8/2006, hiện nay con chung đang sống với ông Q. Khi ly hôn, ông Q yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung theo nguyện vọng của con. Nếu con chung sống với ông Q thì ông Q đồng ý. Không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng P: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho bà Nguyễn Thị Hồng P theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng bà P không liên lạc với Tòa án, không gửi ý kiến bằng văn bản cho Toà án biết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không đến tham gia phiên toà xét xử sơ thẩm.
Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, xét xử vụ án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng P đã được tống đạt các văn bản tố tụng theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, vụ án được đưa ra xét xử đến lần thứ hai nhưng bà P vẫn vắng mặt không có lý do. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên.
- Về nội Dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 238; khoản 4 điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội; Áp dụng khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; khoản 1, 2 Điều 81, khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Phạm Minh Q; Về con chung: Giao cho ông Phạm Minh Q được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Phạm Thị Bình Y, sinh ngày 12/8/2006 đến khi đủ 18 tu i (theo nguyện vọng). Bà Nguyễn Thị Hồng P được quyền thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở; Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét; Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, không đặt ra xem xét; Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, không đặt ra xem xét; Về án phí sơ thẩm đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Nguyên đơn ông Phạm Minh Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng P đã được tống đạt các văn bản tố tụng theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, vụ án được đưa ra xét xử đến lần thứ hai nhưng bà P vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên.
Về nội dung:
Ông Phạm Minh Q và bà Nguyễn Thị Hồng P kết hôn vào năm 2005. Đến năm 2008 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 186 ngày 17/9/2008. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa ông Phạm Minh Q và bà Nguyễn Thị Hồng P là hôn nhân hợp pháp. Khi thụ lý vụ án, Tòa án thông báo cho bà Nguyễn Thị Hồng P về việc thụ lý vụ án theo thông báo số 232/TB-TLVA ngày 11/12/2023, nhưng bà P vẫn không liên hệ đến tòa án, không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của ông Q. Nay ông Q giữ nguyên yêu cầu ly hôn với bà P. Xét thấy, ông Phạm Minh Q và bà Nguyễn Thị Hồng P không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng, nếu tiếp tục kéo dài hôn nhân sẽ không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân giữa ông Phạm Minh Q và bà Nguyễn Thị Hồng P không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Phạm Minh Q.
Về con chung: Trong thời gian chung sống ông Phạm Minh Q và bà Nguyễn Thị Hồng P có 01 người con chung tên Phạm Thị Bình Y, sinh ngày 12/8/2006. Hiện nay con chung đang sống cùng ông Phạm Minh Q, ông Q yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung theo nguyện vọng của con. Nếu ông Q nuôi con thì ông không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy tại văn bản ghi nguyện vọng ngày 14/01/2024, con chung Phạm Thị Bình Y có nguyện vọng được sống với cha. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất căn cứ khoản 1, 2 Điều 81, khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cho ông Phạm Minh Q được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Phạm Thị Bình Y cho đến khi đủ 18 tu i.
Bà Nguyễn Thị Hồng P được quyền thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Ông Phạm Minh Q phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí ông Q đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000126 ngày 06/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M. Như vậy, ông Q đã thực hiện xong.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình thụ lý, xét xử vụ án và ý kiến về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 238; khoản 4 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Căn cứ khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; khoản 1, 2 Điều 81, khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Minh Q được quyền ly hôn với bà Nguyễn Thị Hồng P.
- Về con chung: Giao cho ông Phạm Minh Q được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Phạm Thị Bình Y, sinh ngày 12/8/2006 cho đến khi con chung đủ 18 tu i.
Bà Nguyễn Thị Hồng P được quyền thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Ông Phạm Minh Q phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí ông Q đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000126 ngày 06/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M. Như vậy, ông Q đã thực hiện xong.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Mỹ Xuyên; - Các đương sự; - UBND thị trấn M; - TAND tỉnh Sóc Trăng; - Chi cục THA dân sự huyện Mỹ Xuyên; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ái Mỹ |