- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lý Thị L, chị Lý Thị L được ly hôn anh Lương Mộc P.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST Ngày 24 tháng 9 năm 2024 “V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Soái
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Thế Chiến;
2. Ông Nguyễn Xuân Tiến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Bảo Thuỵ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Ana.
- Đại diện VKSND huyện Krông Ana tham gia phiên tòa: Bà HĐơk Thị Huyền – Kiểm sát viên.
Ngày 24/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Ana xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 87/2024/TLST- HNGĐ ngày 07/5/2024 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/8/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 51a/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12/9/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lý Thị L, sinh năm 1991.
Trú tại: Thôn Đ, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Chị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Lương Mộc P, sinh năm 1977.
Trú tại: Thôn Đ, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và biên bản lấy lời khai chị Lý Thị L trình bày: Tôi xây dựng gia đình với anh Lương Mộc P vào năm 2016, trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn vào ngày 22/8/2016 tại UBND xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình chung sống, vợ chồng tôi sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nay tôi nhận thấy không còn tình cảm với anh P, mâu thuẫn đã trầm trọng kéo dài, đời sống chung không thể tiếp tục, nên tôi đề nghị Tòa giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Lương Mộc P.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng tôi có 02 con chung là cháu Lương Thùy T sinh ngày 24/10/2011 và cháu Lương Thúy Vi S ngày 21/9/2013. Khi ly hôn, tôi có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả hai con chung đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Lương Mộc P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành lấy lời khai được.
Tại phiên tòa đại diện VKSND huyện Krông Ana phát biểu ý kiến: Tòa án xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp là“Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Bị đơn cư trú tại huyện K nên Toà án nhân dân huyện Krông Ana thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử trong thời hạn luật định, đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thu thập chứng cứ Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ đúng theo quy định tại Điều 97 BLTTDS.
Việc tuân thủ pháp luật tố tụng của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình và khoản 4 Điều 147 BLTTDS, cho chị Lý Thị L ly hôn anh Lương Mộc P.
Về con chung: Giao cho chị Lý Thị L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Lương Thùy T sinh ngày 24/10/2011 và cháu Lương Thúy Vi S ngày 21/9/2013 cho đến tuổi trưởng thành. Chị L không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bị đơn anh Lương Mộc P đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 BLTTDS, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn chị Lý Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị L và anh Lương Mộc P kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký ngày 22/8/2016 tại UBND xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Sau khi kết hôn chị L và anh P chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp. Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương cung cấp: Vợ chồng chị L, anh P đã mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên cãi vả.
Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh P đã trầm trọng và kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lý Thị L là phù hợp.
Về con chung: Chị L và anh P có 02 con chung là cháu Lương Thùy T sinh ngày 24/10/2011 và cháu Lương Thúy Vi S ngày 21/9/2013.
Hiện nay, cả hai cháu đang còn nhỏ và ở với mẹ, nguyện vọng của hai cháu cũng xin được ở với mẹ. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Lý Thị L giao cả hai con chung cho chị L nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án phân chia nên không đề cập giải quyết.
Về án phí: Chị L phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228, Điều 238; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lý Thị L, chị Lý Thị L được ly hôn anh Lương Mộc P.
[2]Về con chung:
Giao cho chị Lý Thị L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Lương Thùy T sinh ngày 24/10/2011 và cháu Lương Thúy Vi S ngày 21/9/2013 cho đến khi đủ tuổi trưởng thành.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về án phí: Chị Lý Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K theo biên lại thu tiền số: 0008342 ngày 23 tháng 4 năm 2024.
Anh Lương Mộc P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKS huyện; - Chi cục THADS; - UBND xã D; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Hữu Soái |