- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "vay"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2024/DSST Ngày: 12/01/2024 V/v tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kiều Oanh;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Trương Ngươn;
2. Bà Nguyễn Thị Cẩm Hồng;
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Huỳnh Phúc Tài - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây tỉnh Tiền Giang: Không tham gia.
Ngày 12 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 379/2023/TLST- DS ngày 16 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 226/2023/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 147/2023/QĐST – DS ngày 26 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị L, sinh năm 1967 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Khu phố 5, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1964 (vắng mặt).
Phan Văn L1, sinh năm 1954 (vắng mặt).
Địa chỉ: Khu phố 5, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L có đơn xin vắng mặt, tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án bà L trình bày:
Giữa bà và bà T, ông L1 có quen biết với nhau, bà T vay tiền của bà nhiều lần, cụ thể như sau:
Ngày 17/4/2020, bà T và ông L1 số tiền 15.000.000 đồng, có làm biên nhận, không tính lãi, hứa miệng 04 tháng trả.
Ngày 18/5/2020, bà T và ông L1 số tiền 15.000.000 đồng, có làm biên nhận, hứa miệng 02 tháng trả, kéo tôm lên bán trả chung với số tiền 15.000.000 đồng vay ngày 17/4/2020.
Khoảng tháng 3 năm 2023, bà T mượn tiền ba lần tổng cộng 3.700.000 đồng, không có làm biên nhận do bà T hứa mượn chiều trả nhưng đến nay vẫn không trả.
Bà T và ông L1 vay tiền về làm ăn mua bán ve chai, do là chỗ quen biết nên có yêu cầu trả tiền nhiều lần, bà T và ông L1 hứa hẹn nhiều lần nhưng vẫn không trả, nay vợ chồng bà T ông L1 nợ nhiều người, đã bỏ đi nên bà L yêu cầu ông L1 và bà T có nghĩa vụ liên đới trả vốn gốc đã mượn là 33.700.000đ, ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, không trình bày hay yêu cầu gì thêm khác.
* Bị đơn bà Nguyễn Ngọc T và ông Phan Văn L1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công bố, T cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả thảo luận của Hội đồng xét xử. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L có đơn xin vắng mặt, bị đơn bà Nguyễn Ngọc T và ông Phan Văn L1 vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vụ án theo quy định.
Về quan hệ tranh chấp: Qua xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Về nội dung: Bà Nguyễn Thị L yêu cầu bà Nguyễn Ngọc T và ông Phan Văn L1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà L số tiền vay là 33.700.000đ, thực hiện ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bà Nguyễn Thị L có cho bà Nguyễn Ngọc T và ông Phan Văn L1 vay tiền nhiều lần, cụ thể hai lần mỗi lần 15.000.000đ, đều có làm biên nhận và phía bà L có cung cấp các biên nhận bản chính cho Tòa án, riêng đối với lần cho mượn 3.700.000đ, cho mượn nhiều lần nhưng không có làm biên nhận do số tiền không lớn. Trong suốt quá trình tố tụng, vợ chồng bà Nguyễn Ngọc T và ông Phan Văn L1 vắng mặt không đến Tòa án mặc dù được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, cũng như không gởi văn bản trình bày ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của bà L, chứng tỏ chồng bà Nguyễn Ngọc T và ông Phan Văn L1 đã từ bỏ quyền lợi của mình, không phản đối gì đối với yêu cầu của bà L, bà L có đòi tiền nhiều lần nhưng vợ chồng bà Nguyễn Ngọc T và ông Phan Văn L1 không trả nợ mà còn bỏ trốn đi cho đến nay. Ngoài ra, mặc dù giấy mượn tiền chỉ do bà T viết, bà T trực T đi mượn và nhận tiền nhưng bà T dùng tiền này để mua bán ve chai, phục vụ sinh hoạt trong gia đình. Như vậy, bà L yêu cầu vợ chồng bà Nguyễn Ngọc T và ông Phan Văn L1 có nghĩa vụ liên đới trả 33.700.000đ tiền vay là có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về lãi suất: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Thời hạn trả nợ: Bà L yêu cầu trả một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Về án phí: Ông Phan Văn L1 và bà Nguyễn Ngọc T có nghĩa vụ liên đới nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: các điều 35, 39, 91, 92, 147, 235, 238 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 463, 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L.
Buộc ông Phan Văn L1 và bà Nguyễn Ngọc T có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền 33.700.000đ (Ba mươi ba triệu, bảy trăm ngàn đồng), ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
2. Về án phí:
+ Ông Phan Văn L1 và bà Nguyễn Ngọc T có nghĩa vụ liên đới nộp 1.685.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
+ Trả lại cho bà Nguyễn Thị L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 843.000đ theo biên lai thu tiền số 0012580 ngày 16/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện G.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
“Trường hợp bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND huyện G; - Chi cục THADS huyện G; - Các đương sự; - Lưu án văn, hồ sơ. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Thị Kiều Oanh |