vanban.org

Bản án 28/2023/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 09/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo: Mông Văn L, Mông Văn X và Hứa Văn Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"

Xử phạt bị cáo Mông Văn L 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 21/01/2022. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Mông Văn L. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mông Văn Lý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo: Mông Văn L, Mông Văn X và Hứa Văn Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 28/2023/HSST
Ngày: 09/3/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Minh

Thẩm phán: Bà Trần Thị Mỹ Hải

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Mai Khanh

Bà Bùi Thị Hoa

Ông Võ Duy Bảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Như Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Hà - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 09 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ L số 95/2022/TLST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2023 Đi với các bị cáo:

1. Họ và tên: Mông Văn L; giới tính: nam; tên go ̣i khác: Không; Sinh ngày: 23/02/1988, tại huyện V, tỉnh L; Nơi cư trú: Thôn Pò Mánh, xã Gia Miễn, huyện V, tỉnh L; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 9/12; Họ và tên cha: Mông Văn S; Sinh năm 1948; Họ và tên mẹ: L Thị P (đã chết); Có 06 anh chị em, bị can là con thứ sáu; Vợ (đã ly hôn): Linh Thị T; sinh năm 1993; làm ruộng; Con: 01 người, sinh năm 2010.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2017, Toà án nhân dân huyện V, tỉnh L xử phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Chấp hành án tại Trại giam Hoàng Tiến - Bộ công an; Chấp hành xong hình phạt vào ngày 20/11/2018.

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 21/01/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An. Có mặt

2. Họ và tên: Mông Văn X; giới tính: nam; Tên go ̣i khác : Không; sinh ngày: 18/12/2000, tại huyện V, tỉnh L; Nơi cư trú: Thôn Pò Mánh, xã Gia Miễn, huyện V, tỉnh L; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 9/12; Họ và tên cha: Mông Văn N; Sinh năm 1978; Họ và tên mẹ: Hoàng Thị T; Sinh năm 1977; Có 03 anh chị em, bị can là con thứ nhất; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị can bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/01/2021, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An. Có mặt.

3. Họ và tên: Hứa Văn Đ; giới tính: nam; tên go ̣i khác: Không; sinh ngày: 04/4/1985, tại huyện V, tỉnh L; nơi cư trú: thôn Cúc Pàu, xã Thành Hòa, huyện V, tỉnh L; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 6/12; Họ và tên cha: Hoàng Văn S; sinh năm 1962; Họ và tên mẹ: Hứa Thị K; sinh năm 1959; Có 03 anh chị em, bị can là con thứ nhất; Vợ: Triệu Thị B; Sinh năm 1982; Làm ruộng; Con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2008.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị can bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/01/2021, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Mông Văn L: Bà Phan Thị Ngọc – Luật sư – Văn phòng Luật sư Thành Điệp và Công sự - Đoàn Luật sư tỉnh Nghệ An – Có mặt.

- Người bào chữa cho các bị cáo Mông Văn X và Hứa Văn Đ: Ông Nguyễn Văn Hùng, Trợ giúp viên – Trung tâm trợ giúp pháp L Nhà nước tỉnh Nghệ An – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện ma túy nên sáng ngày 31/12/2020, Mông Văn L (sinh năm 1988, trú tại thôn Pò Mánh, xã Gia Miễn, huyện V, tỉnh L) gọi điện cho một người đàn ông tên H ở Tương Dương, tỉnh Nghệ An (không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể) để hỏi mua 01 bánh Heroine về sử dụng dần. Qua trao đổi, L đặt mua số ma túy trên với giá 156 triệu đồng và thống nhất sẽ cho người vào giao dịch mua bán ma túy với H. Vào trưa cùng ngày, Mông Văn L gọi điện cho Hứa Văn Đ và cháu là Mông Văn X (con anh trai của L) nói đến nhà L. Tại đây, L đưa cho Đ 106.000.000 đồng (một trăm linh sáu triệu đồng), X 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng), nói Đ đi cùng X cầm tiền vào bản Đửa, xã Lượng Minh, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An lấy 01 bánh Heroine về cho L rồi sẽ trả công cho Đ 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) và cho X ma túy dùng. Đồng thời, L đưa cho X 4.000.000 đ (bốn triệu đồng) để hai người đi đường. L đưa cho X số điện thoại của một người đàn ông tên H ở huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An để X liên lạc, đưa tiền cho người đó và lấy 01 bánh Heroine về cho L. Tối cùng ngày, Đ và X bắt xe khách từ tỉnh Lạng Sơn vào huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Khoảng 10 giờ ngày 01/01/2021 cả hai đến thị trấn Thạch Giám, huyện Tương Dương, X gọi cho H và H ra đón rồi đưa Đ, X lên lán trên rừng thuộc bản Đửa, xã Lượng Minh, huyện Tương Dương để chờ lấy ma túy. Đến sáng ngày 02/01/2021, H quay lại nói X và Đ đưa tiền cho H đi lấy ma túy. X đưa cho H 156 triệu đồng (trong đó của Đ 106 triệu, X 50 triệu), H nói hai người chờ. Khoảng 01 tiếng sau, H quay lại đưa cho Đ và X 01 bánh Heroine. Sau đó, Đ đưa số ma túy này về trước cho L, còn X ở lại mua của H 01 gói nhỏ Heroine với giá 250.000 đồng (hai trăm năm mươi nghìn đồng) để sử dụng. Khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày, khi Hứa Văn Đ đi đến khu vực thị trấn Thạch Giám, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An thì bị Công an huyện Tương Dương bắt quả tang, thu giữ của Đ 01 bánh ma túy có khối lượng 348 gam. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An bắt Mông Văn X, thu giữ trong người của X 01 gói chất bột màu trắng có khối lượng 0,4 gam. (BL216 - 289).

Sau khi gây án, Mông Văn L bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 10/8/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An ra Quyết định khởi tố bị can và ngày 20/11/2021 ra Quyết định truy nã Đi với Mông Văn L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 4, Điều 249, Bộ luật hình sự. Đến ngày 20/01/2022, Mông Văn L bị bắt giữ theo Quyết định truy nã nói trên. Sau khi bị bắt, L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Bản kết luận giám định số 155/KL - PC09 (Đ2-MT) ngày 08/01/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận:

“Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Hứa Văn Đ gửi tới giám định là ma túy (Heroine). Số chất bột màu trắng thu giữ của Hứa Văn Đ có khối lượng là 348 g (ba trăm bốn mươi tám gam)”.

Bản kết luận giám định số 154/KL- PC09 (Đ2-MT) ngày 08/01/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận:

“Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Mông Văn X gửi tới giám định là ma túy (Heroine). Số chất bột màu trắng thu giữ của Mông Văn X có khối lượng là 0,4 g (không phẩy bốn gam)”.

Với nội dung trên, Cáo trạng số 84/CT - VKS - P1 ngày 19 tháng 4 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An quyết định truy tố các bị cáo Mông Văn L, Mông Văn X, Hứa Văn Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b, khoản 4, Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 (điểm g khoản 1 Điều 52 Đi với bị cáo X), Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Mông Văn L 20 năm tù; bị cáo Mông Văn X 17 (Mười bảy) đến 18 (Mười tám) năm tù; bị cáo Hứa Văn Đ 16 (Mười sáu) đến 17 (Mười bảy) năm tù đều về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Miễn hình phạt bổ sung phạt tiền cho các bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 BLHS: Tịch thu tiêu hủy khối lượng Hêrôin thu giữ của các bị cáo; tịch thu hóa giá sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại thu giũ của Mông X và 01 chiếc điện thoại Sam sung thu giữ của Hứa Văn Đ; trả cho bị cáo Đ chiếc điện thoại Nokia không liên quan đến hành vi phạm tội.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Phần tranh luận:

+ Người bào chữa cho bị cáo Mông Văn L trình bày: Về tội danh nhất trí như tội danh Viện kiểm sát truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo với các tình tiết sau: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sau khi bị bắt khai báo thành khẩn và xem xét giảm nhẹ dưới mức đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo Mông Văn L đồng ý với người bào chữa cho bị cáo và không tranh luận gì thêm chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

+ Người bào chữa cho bị cáo Mông Văn X và Hứa Văn Đ trình bày: Tại phiên tòa các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên nhất trí tội danh như Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã truy tố. Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở địa bàn vùng sâu, vùng xa nên nhận thức còn hạn chế. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như trong phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò giúp sức nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Các bị cáo Mông Văn X và Hứa Văn Đ đồng ý với quan điểm bào chữa của người bào chữa, không tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tội danh các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo Mông Văn L, Hứa Văn Đ và Mông Văn X khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra cũng như các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, nên đủ căn cứ kết luận: Do nghiện ma túy nên ngày 31/12/2020, Mông Văn L đưa cho Hứa Văn Đ 106.000.000đ (một trăm linh sáu triệu đồng) và đưa cho Mông Văn X 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) để vào bản Đửa, xã Lượng Minh, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An mua của người đàn ông tên H 01 bánh Heroine đưa về cho L sử dụng dần và L sẽ trả công cho Đ 5.000.000đ (Năm triệu đồng) và nói cho bị cáo X ma túy để dùng.

Sau khi nhận tiền từ Mông Văn L thì Mông Văn X và Hứa Văn Đ đi từ Lạng Sơn vào huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Đến ngày 02/01/2021, tại rừng thuộc bản Đửa, xã Lượng Minh, huyện Tương Dương, Mông Văn X và Hứa Văn Đ gặp và đưa cho người đàn ông tên H (không rõ lai lịch, địa chỉ) 156.000.000đ (Một trăm năm mươi sáu triệu đồng), (trong đó của Đ 106.000.000đ (Một trăm linh sáu triệu đồng), X 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) để lấy 01 bánh Heroine có khối lượng 348 gam. Nhận được ma túy, Đ bắt xe đưa số ma túy này về trước, còn X ở lại mua của H 01 gói nhỏ Heroine có khối lượng 0,4 gam với giá 250.000đ (hai trăm năm mươi nghìn đồng) để về sử dụng.

Khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày, trên đường đưa ma túy về đến khu vực thị trấn Thạch Giám, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An thì Hứa Văn Đ bị Công an huyện Tương Dương bắt quả tang cùng với 01 bánh Heroine có khối lượng 348 gam. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An bắt Mông Văn X, thu giữ trong người của X 0,4 gam Heroine.

Mông Văn L phải chịu trách nhiệm về hành vi tàng trữ 348 gam Heroine, Mông Văn X chịu trách nhiệm về hành tàng trữ 348,4 gam Heroine và Hứa Văn Đ phải chịu trách nhiệm về hành tàng trữ 348 gam Heroine.

Như vậy, hành vi của các bị cáo Mông Văn L, Mông Văn X, Hứa Văn Đ bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 249 Bộ luật hình sự là có cưn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, vai trò các bị cáo trong vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thấy rằng:

Hành vi phạm tội, tình chất vụ án:

Vụ án thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo Mông Văn L, Mông Văn X, Hứa Văn Đ gây nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản L của Nhà nước Việt Nam Đi với chất ma túy vì ma túy là nguốc gốc sâu xa làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, làm ảnh H đến an ninh, trật tự xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì để thỏa mãn con nghiện của bản thân nên vẫn thực hiện.

Về nhân thân của các bị cáo thấy rằng:

Đi với bị cáo Mông Văn L, năm 2017 đã từng bị xử phạt về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Sau khi trở về địa phương bị cáo không lấy đó làm bài học để cải sửa bản thân tự giác cai nghiện mà lại tiếp tục tàng trữ trái phép chất ma túy với số lượng lớn hơn, nguy hiểm hơn. Để thỏa mãn nhu cầu cá nhân Mông Văn L đã khởi xướng rủ rê lôi kéo bị cáo X và bị cáo Đ giúp sức đi mua ma túy hộ bị cáo với khối lượng 348 gam Heroine. Do đó, cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và có vai trò chính trong vụ án này. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải Đi với hành vi phạm tội của mình nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt Đi với bị cáo.

Đi với bị cáo Mông Văn X, cũng là Đi tượng nghiện ma túy, bị cáo có đủ nhận thức để biết tác hại của ma túy song bị cáo không tự giác cai nghiện. Để có ma túy sử dụng, ngày 02/01/2021 bị cáo X và bị cáo Đ đi lấy 348 gam Hê rô in về đưa cho Mông Văn L và mua thêm cho mình 0,4 gam Hêrôin về để sử dụng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự khối lượng 348,4 gam Hêrôin và thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên. Do đó, cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo, tuy nhiên cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần cho bị cáo vì bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo phạm tội với vai trò giúp sức, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt Đi với bị cáo.

Đi với bị cáo Hứa Văn Đ: Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy nhưng coi thường pháp luật nên ngày 02/01/2021 đã cùng bị cáo X đi lấy 348 gam hêrôin về cho Mông Văn L sử dụng và H lợi số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) từ Mông Văn L. Do đó, cần xử phạt nghiêm minh tương xướng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo vì bị cáo khai báo thành khẩn, phạm tội vai trò giúp sức cho bị cáo L để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Mông Văn X phạm tội thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên, đây là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; các bị cáo Mông Văn L và Hứa Văn Đ không có tình tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản riêng, thu nhập không ổn định, gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.

Trong vụ án này, theo lời khai của Hứa, Đ và X, Đi với người đàn ông tên H ở huyện Tương Dương, Nghệ An (người bán ma túy cho Mông Văn X và Hứa Văn Đ), do Mông Văn L, Đ và X không biết lai lịch, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, điều tra, làm rõ nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ khối lượng ma túy còn lại sau giám định; Tịch thu hóa giá sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn Nokia, màu đen thu giữ của bị cáo X; Trả cho bị cáo Hứa Văn Đ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu tím không liên quan đến hành vi phạm tội; Tịch thu hóa giá sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Sam Sung, màu xanh thu giữ của Hứa Văn Đ.

Vật chứng hiện được bảo quản tại kho vật chứng Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.

Tại phiên tòa các bị cáo, người bào chữa không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo: Mông Văn L, Mông Văn X và Hứa Văn Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"

2. Áp dụng điểm b, khoản 4, Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự (điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự Đi với bị cáo X).

Xử phạt bị cáo Mông Văn L 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 21/01/2022.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Mông Văn L.

Xử phạt bị cáo Mông Văn X 18 (Mười tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 02/01/2021.

Xử phạt bị cáo Hứa Văn Đ 17 (Mười bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 02/01/2021.

2. Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy Số Heroine còn lại 0,2 gam và Số Heroine còn lại 328 gam thu giữ của bị cáo Mông Văn X và Hứa Văn Đ.

Tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn Nokia, màu đen thu giữ của bị cáo Mông Văn X.

Tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu tím. Và 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Sam Sung, màu xanh thu giữ của bị cáo Hứa Văn Đ.

Đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 01 năm 2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An và Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản L và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Mông Văn L, Mông Văn X, Hứa Văn Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội./.

Cỡ chữ