- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Trần Văn Trung phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn Trung phạm tội “Mua bán trái phé p chất ma
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị định số 19/2018/NĐ-CP Quy định về việc tính tổng khối l…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢICHÂU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2023/HSST Ngày: 09 tháng 3 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Khắc Tường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hải
Ông Nguyễn Văn Sanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào – Thư ký Tòa án nhân dân
quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành
phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 120/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2023/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn Trung; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
Sinh ngày 11 tháng 01 năm 1990, tại thành phố Đà Nẵng.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: K123/51 Cù Chính Lan, phường Hòa Khê,
quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Số CMND/CCCD: 048090002139; cấp ngày 28.6.2021; Nơi cấp: Cục CSQLHC về TTXH. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiê ̣p: Lao động phổ thông. Con ông: Trần Văn Sơn (sinh năm 1962) và bà Lê Thị Một (sinh năm: 1964). Gia đình có 04 người con, bị cáo là con thứ ba.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 09 tháng
9 năm 2022, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua diễn biến tại phiên tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 30 ngày 09/9/2022, tại trước số nhà 89 đường Lý Tự Trọng,
phường Thanh Bình, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, lực lượng Công an quận Hải Châu phát hiện Trần Văn Trung điều khiển xe mô tô biển số: 43D1 - 661.82 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện thu giữ ở móc treo đồ bên trái của xe mô tô có 01 túi ni lông màu vàng chứa 01 hộp giấy màu đỏ có dòng chữ “ Trung thu hội ngộ ” bên trong có chứa:
- 01 gói ni lông kích thước khoảng (12 x 07) cm chứa 50 viên nén màu tím
nghi là ma túy.
- 01 gói ni lông kích thước khoảng (7,5 x 04) cm chứa tinh thể rắn màu
trắng, nghi là ma túy.
Trần Văn Trung khai nhận số ma túy nói trên là Trung mua của Bô (không
rõ nhân thân lai lịch) quen biết ngoài xã hội, tại đường Mai Am, TP. Đà Nẵng với giá 20.000.000đồng để có ai hỏi mua thì bán nhưng chưa kịp bán cho ai thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy nêu trên.
Lúc 19 giờ 15 phút, ngày 09/9/2022 Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu
tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Văn Trung tại: K123/51 đường Cù Chính Lan, phường Hòa Khê, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng. Kết quả khám xét không thu giữ được đồ vật tài sản gì. Qua kiểm tra, Trần Văn Trung dương tính với ma túy thuốc lắc.
Biên bản kiểm tra điện thoại di động màu đen, hiệu Iphone, gắn sim số:
0777.574263 của của Trần Văn Trung với số thuê bao 0702.428581 lưu trong danh bạ tên “E Bô Thạch Mới” là người bán ma túy cho Trung vào ngày 09 /9/2022 xác định: Có 03 cuộc gọi đi lúc 12 giờ 08 phút (thời lượng 17 giây); 14 giờ 13 phút (thời lượng 10 giây) và 14 giờ 15 phút (thời lượng 16 giây). Cuộc gọi đến, cuộc gọi nhỡ, tin nhắn SMS, ứng dụng Zalo, Messenger: đều không có nội dung liên quan đến ma túy.
Biên bản kiểm tra điện thoại di động màu vàng, hiệu Samsung gắn sim 1 số:
0782.666.611 và sim 2 số: 0774.221.111 và điện thoại di động màu vàng đen gắn sim số : 0779.593.659 của Trần Văn Trung không có cuộc gọi đi, cuộc gọi đến, cuộc gọi nhỡ, tin nhắn SMS, ứng dụng Zalo, Messenger: đều không có nội dung liên quan đến ma túy.
Vật chứng thu giữ:
- 01 gói ni lông kích thước khoảng (12 x 07)cm chứa 50 viên nén màu tím.
- 01 gói ni lông kích thước khoảng (7,5 × 04)cm chứa tinh thể rắn màu trắng.
Tất cả được niêm phong ký hiệu B.
- 01 hộp giấy màu đỏ có dòng chữ “Trung thu hội ngộ” kích thước
(12x12x5)cm;
- 01 túi ni lông màu vàng;
- 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu xanh đen, số khung RLCVG 061
OHY 547805, số máy G3D4E571479, gắn biển số 43D1 - 661.82.
-01 điện thoại di động màu vàng hiệu Samsung, số imei 356911074686872/01
và 356912074686870/01 gắn sim số 0782.666.611 và 0774.221.111.
- 01 điện thoại di động màu đen hiệu Iphone, số imei 353810087766072, gắn
sim số 0777.574.263.
- 01 điện thoại di động màu vàng đen, số imei 355180715273299 và
355180715273299, gắn sim số 0779.593659.
- 01 căn cước công dân số: 048090002139, mang tên Trần Văn Trung;
- Số tiền 2.000.000đồng.
Theo Kết luận giám định số 195/KLMT-KTHS ngày 16.9.2022 của Phòng kỹ
thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận:
- Các viên nén màu tím trong mẫu ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy, loại
MDMA; khối lượng mẫu B1: 19,532gam.
- Tinh thể rắn màu trắng ký hiệu B2 gửi giám định là ma túy, loại ketamine,
khối lượng mẫu B2: 6,572gam.
- Kèm theo kết luận giám định này có: Biên bản đóng gói, niêm phong và
giao, nhận lại đối tượng giám định; 01 bì niêm phong đựng mẫu hoàn trả.
- Hoàn trả đối tượng giám định gồm: 17,303 gam mẫu B1; 6,036 gam mẫu B2
và toàn bộ vỏ bao gói.
Tại bản cáo trạng số 112/CT-VKS ngày 23 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm
sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Trần Văn Trung về tội “Mua bán trá i phé p chất ma tú y” theo điểm p khoản 2 điều 251 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự̀
.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định
truy tố đối với bị cáo Trần Văn Trung và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp du ̣ng điểm p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điều 38 của Bô ̣
luâ ̣t hinh sự̀
, xử pha ̣t bi ̣ cáo từ 08 năm đến 09 năm tù.
- Áp dụng điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm c khoản 1
điều 47 Bộ luật hình sự để tịch thu tiêu hủy vật chứng là mẫu B và toàn bộ bao gói mẫu hoàn trả sau giám định theo kết luận giám định số 195/KLMT - KTHS ngày 16. 9. 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng; 01 hộp giấy màu đỏ có dòng chữ “ Trung thu hội ngộ ” thước khoảng (12x12x5)cm; 01 túi ni lông màu vàng.
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu sung
ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu đen, số imei: 353810087766072 và gắn sim số 0777.574.263; 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu xanh đen, số khung RLCVG 061 OHY 547805, số máy G3D4E571479, gắn biển số 43D1 - 661.82
- Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để trả lại cho bị cáo Trần
Văn Trung 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu vàng, số imei: 356911074686872/01 và 356912074686870/01 gắn sim số 0782.666.611 và 0774.221.111; 01 điện thoại di động màu vàng đen, số imei: 355180715273299 và 355180715273299 gắn sim số 0779.593.659; 01 căn cước công dân số 048090002139 mang tên Trần Văn Trung và số tiền 2.000.000đồng (Hai triệu đồng)
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thấy được lỗi lầm của mình, đã thực sự ăn năn
hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ
vụ án đã được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện
kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về hành vi phạm tội: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo
Trần Văn Trung đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hô ̣i đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 09 tháng 9 năm 2022 Trần Văn Trung điều khiển xe mô tô biển số: 43D1 - 661.82 đến đường Mai Am, thành phố Đà Nẵng gặp Bô mua ma túy có khối lượng 19,532 gam loại MDMA và 6,572 gam loại Ketamine với giá 20.000.000đ nhằm mục đích bán lại kiếm lời. Trung bỏ ma túy vào bao ni lông màu vàng treo trên móc bên trái của xe. Khi điều khiển xe đến trước số nhà 89 đường Lý Tự Trọng, phường Thanh Bình, quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng thì bị lực lượng Công an quận Hải Châu phát hiện bắt quả tang.
Căn cứ điểm b, khoản 3, Điều 5, Chương II của Nghị Định số: 19/2018/NĐ-
CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ quy định về việc tính khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015, tính khối lượng của 02 chất ma túy (MDMA và Ketamine) của Trung mua bán như sau: (B1: 19,532/30gam x 100%) + (B2: 6,572/100gam x 100%) = 65,1066 + 6,572%= 71,6786% (dưới 100%). Do đó, hành vi nêu trên của Trần Văn Trung đã cấu thành tội “Mua bán trá i phé p chất ma tú y”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự̀
như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án là rất nghiêm tro ̣ng, hành vi của bi ̣ cáo đã xâm phạm
đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, hành vi của bị cáo làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó cần phải xử lý một mức hình phạt tù tương ứng với hành vi phạm tội, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn Trung không có tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái đô ̣ khai báo
thành khẩn, ăn năn hối cải. Do đó cần áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Về xử lý vật chứng:
+ Xét thấy vật chứng là mẫu B và toàn bộ bao gói mẫu hoàn trả sau giám
định theo Kết luận giám định số 195/KLMT - KTHS ngày 16. 9. 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự để tịch thu tiêu hủy;
+ Xét thấy vật chứng là 01 hộp giấy màu đỏ có dòng chữ “Trung thu hội ngộ”
thước khoảng (12x12x5)cm và 01 túi ni lông màu vàng là vật chứng không có giá trị nên cần áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy;
+ Xét thấy 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu đen, số imei:
353810087766072 và gắn sim số 0777.574.263 Trung sử dụng vào việc liên lạc mua ma túy của Bô nên cần áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu sung ngân sách nhà nước.
+ Xét thấy 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu xanh đen, số khung
RLCVG 061 OHY 547805, số máy G3D4E571479, gắn biển số 43D1 - 661.82 chủ sở hữu Trần Văn Trung, là phương tiện dùng vào việc phạm tội. Mặc dù bị cáo Trung cho rằng đây là xe có được do cha mẹ bị cáo cho tiền để mua sử dụng vào việc đi làm. Tuy nhiên bị cáo, gia đình bị cáo và cơ quan tiến hành tố tụng không thu thập được bất kì chứng cứ gì chứng minh điều đó nên cần áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu sung ngân sách nhà nước.
+ Xét thấy 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu vàng, số imei:
356911074686872/01 và 356912074686870/01 gắn sim số 0782.666.611 và 0774.221.111 và 01 điện thoại di động màu vàng đen, số imei: 355180715273299 và 355180715273299 gắn sim số 0779.593.659 là phương tiện cá nhân của bị cáo không liên quan đến tội phạm nên cần áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để trả lại cho bị cáo Trần Văn Trung.
+ Xét thấy 01 căn cước công dân số 048090002139 mang tên Trần Văn
Trung là giấy tờ tùy thân của bị cáo nên cần áp dụng điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để trả lại cho bị cáo .
+ Xét thấy số tiền 2.000.000đồng (Hai triệu đồng) là tiền cá nhân của bị cáo
không liên quan đến tội phạm nên cần áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để trả lại cho bị cáo Trần Văn Trung.
Về án phí: Bị cáo Trần Văn Trung phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là
200.000đ.
* Đối với người tên Bô bán ma túy cho Trung, hiện nay chưa xác định được
lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
* Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trung, Cơ quan Công an
quận Hải Châu đã ra Quyết định số 292/QĐ-XPHC ngày 29.9.2022 xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đồng là đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Trần Văn Trung phạm tội “Mua bán trái phé p chất ma
tú y”.
1. Căn cứ điểm p khoản 2 điều 251; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Văn Trung 08 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất
ma túy". Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09 tháng 9 năm 2022.
2. Về xử lý vâ ̣t chứ ng:
- Căn cứ điểm a, c khoản 2, khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Căn cứ điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự;
Tịch thu tiêu hủy mẫu B và toàn bộ bao gói mẫu hoàn trả sau giám định theo
Kết luận giám định số 195/KLMT - KTHS ngày 16. 9. 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng; 01 hộp giấy màu đỏ có dòng chữ “Trung thu hội ngộ” thước khoảng (12x12x5)cm và 01 túi ni lông màu vàng.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu
xanh đen, số khung RLCVG 061 OHY 547805, số máy G3D4E571479, gắn biển số 43D1 - 661.82 chủ sở hữu Trần Văn Trung và 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu đen, số imei: 353810087766072 và gắn sim số 0777.574.263.
Hoàn trả cho bị cáo Trần Văn Trung 01 điện thoại di động hiệu Samsung,
màu vàng, số imei: 356911074686872/01 và 356912074686870/01 gắn sim số 0782.666.611 và 0774.221.111; 01 điện thoại di động màu vàng đen, số imei: 355180715273299 và 355180715273299 gắn sim số 0779.593.659; 01 căn cước công dân số 048090002139 mang tên Trần Văn Trung và số tiền 2.000.000đồng (Hai triệu đồng) .
Các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quâ ̣n
Hải Châu, thành phố Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28 tháng 11 năm 2022.
3. Về án phí:
Căn cứ điểm a khoản 1 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Trần Văn Trung phải chi ̣u 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án
phi hí ̀nh sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15
ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TP Đà Nẵng; - VKSND TP Đà Nẵng; - VKSND quận Hải Châu; - Công an quận Hải Châu; - Trại giam Công an TP. Đà Nẵng; - Cơ quan THA hình sự quận Hải Châu; - Chi cục THA dân sự quận Hải Châu; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM NHÂN DÂN TRẦN HẢI NGUYỄN VĂN SANH HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Phạm Khắc Tường THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA PHẠM KHẮC TƯỜNG THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |