vanban.org

Bản án 28/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 02/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tạm giam bị cáo: Trần Văn Vương, sinh năm 1993

Nơi cư trú: thôn Đồng Tâm, xã Hào Phú, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang. Nghề nghiệp: Lao động tự do Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tạm giam bị cáo: Trần Văn Vương, sinh năm 1993
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG LÔ
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2023/HSST
Ngày 02/6/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kiên Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hà.

Bà Nguyễn Thị Ngọc.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô tham gia phiên tòa: Ông Dương Mạnh Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 6 năm 2023 tại điểm cầu trung tâm, phòng xét xử số 3, tầng II hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, điểm cầu trực tuyến tại Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc, Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc mở phiên toà xét xử trực tuyến công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 28/2023/HSST ngày 28/4/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2023/QĐXXST-HS ngày 22/5/2023 đối với bị cáo:

Trần Văn V, sinh năm 1993; Nơi đăng ký hộ khẩu và chỗ ở: thôn Đ, xã H, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 0/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T sinh năm 1965 và bà Vũ Thị L, sinh năm 1965; Vợ, con; không, (hiện bố, mẹ đang ở xã Hào Phú, huyện Sơn Dương). Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/3/2023 đến nay, (có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Trương Đức T, sinh năm 1995. Trú tại: thôn A, xã Đ, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do nghiện chất ma túy nên khoảng 18 giờ 30 phút ngày 05/3/2023, Trần Văn V, trú tại thôn Đ, xã H, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đến khu vực huyện Lập Thạch mua được 01 gói ma túy gói bằng giấy bạc màu vàng của người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ với giá 500.000đ. Sau khi mua được ma túy Vương cài vào bao thuốc lá Thăng Long đúc vào túi áo khoác, điều khiển xe môtô theo đường tỉnh lộ 307 đi về mục đích sử dụng cho bản thân, vào khoảng 19 giờ 10 phút ngày 05/3/2023, tại đường tỉnh lộ 307 thuộc thôn Hoa Cao, xã Nhạo Sơn, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc thì bị Công an huyện Sông Lô kiểm tra phát hiện lập biên bản phạm tội quả tang và thu giữ gói ma túy niêm phong, ký hiệu A1.

Ngày 05/3/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Lô quyết định trưng cầu giám định số: 40/QĐ. Tại kết luận giám định số 540/KL-KTHS ngày 09/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: Chất cục, bột màu trắng của mẫu ký hiệu A1gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1653g loại Heroine.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho V tại khu vực thị trấn Lập Thạch, huyện Lập Thạch do Vương không biết rõ tên tuổi, địa chỉ và không nhận dạng được không có cơ sở điều tra làm rõ người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh để xử lý.

Tại bản cáo trạng số: 30/CT - VKSSL ngày 26/4/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô đã truy tố Trần Văn V về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô luận tội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Văn V từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô đã truy tố và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, ăn năn hối hận, bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại điện viện kiểm sát không có ý kiến tranh luận gì.

Trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Sông Lô, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Vương không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn V đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Vào khoảng 19 giờ 10 phút ngày 05/3/2023, tại đường tỉnh lộ 307 thuộc thôn H, xã N, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc, bị cáo đang có hành vi đang tàng trữ trái phép 01 gói ma túy Heroine khối lượng là 0,1653gam, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Lô phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng liên quan.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản lời khai và bản kiểm điểm của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định chất ma túy và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Trần Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Do đó bản cáo trạng số: 30/CT - VKSSL ngày 26/4/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô đã truy tố Trần Văn V về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không bị oan.

Hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự, an ninh ở địa phương nhất là trong giai đoạn hiện nay Đảng và Nhà nước có những chủ trương, biện pháp đấu tranh không khoan nhượng đối với các loại tội phạm về ma tuý nhưng trên địa bàn huyện Sông Lô nói chung tội phạm về ma tuý diễn biến ngày càng phức tạp và có chiều hướng gia tăng, nó cũng là mầm mống nảy sinh những tội phạm khác như: Trộm cắp, lừa đảo, cướp giật tài sản......Do vậy cần xử phạt bị cáo với mức án tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo có như vậy mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và dăn đe những kẻ khác góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm.

Về nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối chiếu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt tù cách ly bị cáo một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, luôn có ý thức chấp hành pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh và tại phiên tòa bị cáo xác nhận là người nghiện ma túy, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, không có công việc thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ mẫu vật hoàn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói được niêm phong cùng “ MẪU TRẢ“ gồm A1= 0,1134gam ma túy Heroine, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long không còn giá trị sử dụng.

Đối với chiếc xe môtô BKS 22B2 – 050.52 là tài sản hợp pháp của anh Trương Đức Trọng không liên quan đến hành vi phạm tội của V nên trả lại anh Trọng là phù hợp.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia loại bàn phím, mùa đen bên trong có lắp 01 sim số 0356.574.201; 01 chiếc ví giả da và số tiền 122.000đ thu giữ của Vương không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng được tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Vương phải theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2/ Điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Phạt: Trần Văn V 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 05 tháng 3 năm 2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo Vương để đảm bảo thi hành án.

3/ Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ mẫu vật hoàn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói được niêm phong cùng “ MẪU TRẢ“ gồm A1= 0,1134gam ma túy Heroine, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long và toàn bộ bao gói.

Trả lại anh Trương Đức T 01chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda gắn BKS 22B2 - 050.52, sơn màu trắng có 01 gương nhỏ chiếu hậu.

Trả lại Trần Văn V 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia loại bàn phím, màu đen bên trong có lắp 01 sim số 0356.574.201; 01 chiếc ví giả da và số tiền 122.000đ nhưng được tạm giữ để đảm bảo thi hành án. (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/5/2023 của Chi cục thi hành án huyện Sông Lô).

4/ Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Văn V phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5/ Án xử công khai sơ thẩm: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./. Nơi nhận:

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -VKSND huyện Sông Lô;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà -VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; -TAND tỉnh Vĩnh Phúc; -Chi cục THA dân sự huyện Sông Lô; -Công an huyện Sông Lô; -UBND xã H; -Bị cáo; Người có QLNV liên quan;

Nguyễn Kiên Thành -Lưu hs; Vp.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN SÔNG LÔ

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

TỈNH VĨNH PHÚC

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào 09 hồi giờ 40 phút ngày 02 tháng 6 năm 2023.

Tại: Phòng nghị án Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Kiên Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hà và bà Nguyễn Thị Ngọc.

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2023/HSST ngày 28 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Văn Vương, sinh năm 1993.

Nơi cư trú: thôn Đồng Tâm, xã Hào Phú, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang.

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1/ Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ, trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.

2/ Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều hợp pháp. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.

3/ Về tội danh và Điều luật áp dụng: có đầy đủ căn cứ kết tội bị cáo Trần Văn Vương phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.

4/ Về hình phạt: Phạt Trần Văn Vương 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 05 tháng 3 năm 2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo Vương để đảm bảo thi hành án. Bị cáo không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.

5/ Về xử lý vật chứng và án phí hình sự: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ mẫu vật hoàn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói được niêm phong cùng “ MẪU TRẢ“ gồm A1= 0,1134gam ma túy Heroine, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long và toàn bộ bao gói.

Trả lại anh Trương Đức Trọng 01chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda gắn BKS 22B2 - 050.52, sơn màu trắng có 01 gương nhỏ chiếu hậu.

Trả lại Trần Văn Vương 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia loại bàn phím, màu đen bên trong có lắp 01 sim số 0356.574.201; 01 chiếc ví giả da và số tiền 122.000đ nhưng được tạm giữ để đảm bảo thi hành án. (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/5/2023 của Chi cục thi hành án huyện Sông Lô).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Văn Vương phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.

6/ Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên huyện Vĩnh Tường trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.

7/ Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.

Nghị án kết thúc vào hồi 09 giờ 50 phút ngày 02 tháng 6 năm 2023.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hà Nguyễn Thị Ngọc

Nguyễn Kiên Thành

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN SÔNG LÔ

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

TỈNH VĨNH PHÚC

Sông Lô ngày 02 tháng 6 năm 2023 Số: 16/2023/HSST-QĐTG

QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kiên Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hà và bà Nguyễn Thị Ngọc.

Căn cứ vào các Điều 109, 113, 119 và Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào biên bản nghị án ngày 02/6/2023 của Hội đồng xét xử sơ thẩm.

Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc Thi hành án.

QUYẾT ĐỊNH

1/ Tạm giam bị cáo: Trần Văn Vương, sinh năm 1993

Nơi cư trú: thôn Đồng Tâm, xã Hào Phú, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang.

Nghề nghiệp: Lao động tự do

Bị Toà án cấp sơ thẩm xử phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 05 tháng 3 năm 2023.

Thời hạn tạm giam là: 45 (Bốn mươi năm) ngày, kể từ ngày tuyên án, ngày 02/6/2023.

2/ Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc có trách nhiệm Thi hành quyết định này.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ