vanban.org

Bản án 28/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 17/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Tuyên bố bị cáo Lê Minh P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Minh P 42 ( bốn mươi hai) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 20/12/2022 đến ngày 29/12/2022. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. [2]. Về xử lý vật chứng, đồ vật tạm giữ : Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Minh P - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố bị cáo Lê Minh P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ PHÚ THỌ
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2023/HS-ST
Ngày 30-5-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ - TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phong Phú

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lưu Thị Thúy Nga

2. Bà Trần Thị Mai Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Hoàng Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Hoa - Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.

Ngày 30 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2023/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo: Lê Minh P - sinh ngày 07 tháng 4 năm 1973 tại thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Khu dân cư Nguyễn Du, phường Âu Cơ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn Đoan (đã chết) và bà Vũ Thị Nhi (đã chết). Bị cáo có vợ là Hán Thị Oanh, sinh năm 1975 và có 02 con:Con lớn sinh năm 2001; con nhỏ sinh năm 2014;Tiền án: 0 tiền án; Tiền sự: 02 tiền sự:

Ngày 26/9/2022, Công an phường Âu Cơ xử phạt P về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hình phạt “Cảnh cáo”.

Ngày 06/12/2022, Công an phường Âu Cơ xử phạt P 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. P chưa nộp phạt.

Lịch sử bản thân:

Bản án Hình sự sơ thẩm số 65/HSST ngày 05/3/1996 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ xử phạt P 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “trộm cắp tài sản”, thử thách 12 tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tòa Tuyên án. Buộc P bồi thường cho anh Phạm Quang Hồng 250.000 đồng; bồi thường cho bà Vũ Thị Cường 30.000 đồng. P phải nộp 50.000 đồng án phí HSST, 50.000 đồng án phí dân sự trong hình sự. P đã chấp hành xong hình phạt chính, nộp các khoản án phí HSST, án phí dân sự trong hình sự. Đối với khoản tiền bồi thường, kết quả xác minh tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ xác nhận anh Hồng và bà Cường không có đơn yêu cầu bồi thường.

Bản án Hình sự sơ thẩm số 21/HSST ngày 15.9.1998 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ xử phạt P 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, thời hạn tù tính từ ngày 04/5/1998. Buộc P bồi thường cho anh Nguyễn Văn Ngọc số tiền 25.000 đồng. P phải chịu 50.000 đồng án phí HSST, 50.000 đồng án phí dân sự trong hình sự. P ra trại ngày 04/01/1998, đã chấp hành xong án phí hình sự, án phí dân sự trong hình sự. Đối với khoản tiền bồi thường, kết quả xác minh tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ xác nhận anh Ngọc không có đơn yêu cầu bồi thường.

Bản án Hình sự sơ thẩm số 06/HSST ngày 07/3/2002 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ xử phạt P 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội trộm cắp tài sản, thử thách 24 tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tòa Tuyên án. P phải chịu 50.000 đồng án phí HSST. P đã chấp hành xong hình phạt chính và các quyết định khác của bản án

Bản án Hình sự sơ thẩm số 20/HSST ngày 26/5/2005 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ xử phạt xử phạt P 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt buộc P phải chấp hành hình phạt 48 tháng tù cho cả hai tội. Thời hạn tù tính từ ngày 02.03.2005. Buộc P phải bồi thường cho chị Lê Thị Bích Hà số tiền 500.000 đồng. P phải chịu 50.000 đồng án phí HSST, 50.000 đồng án phí dân sự trong hình sự. P ra trại ngày 02.12.2008, đã nộp các khoản án phí hình sự, án phí dân sự trong hình sự. Đối với khoản tiền bồi thường, kết quả xác minh tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ xác nhận chị Hà không có đơn yêu cầu bồi thường.

Bản án Hình sự sơ thẩm số 67/HSST ngày 27/10/2016 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ xử phạt xử phạt P 27 tháng tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày P bị bắt đi thi hành án. Truy thu của P số tiền 200.000 đồng, P phải chịu 200.000 đồng án phí HSST. P đã nộp án phí ngày 28/12/2016 và ra trại ngày 09.01.2019.

Ngày 22/5/2011, Công an phường P Châu xử phạt P 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. P chưa nộp phạt.

Ngày 08/6/2016, Công an phường P Châu xử phạt P 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. P chưa nộp phạt.

Ngày 22/5/2017, Công an phường P Châu xử phạt P 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. P chưa nộp phạt.

Đối với 03 quyết định xử phạt hành chính trên Lê Minh P chưa nộp phạt nhưng Công an phương P Châu chỉ lập biên bản xác minh P không có điều kiện thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng không tổ chức cưỡng chế hay có bất kỳ biện pháp nào buộc Lê Minh P thi hành đối với các quyết định xử phạt VPHC nêu trên

Ngày 17/9/2019, Công an phường Hùng Vương xử phạt P 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. P đã nộp phạt ngày 27/9/2019 .

Ngày 04/01/2023, Công an phường Âu Cơ xử phạt P 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. P chưa nộp phạt.

Lê Minh P bị tạm giữ từ 11 giờ ngày 20/12/2022 đến ngày 29/12/2022, sau đó bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện bị can đang tại ngoại tại phường Âu Cơ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)

+Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1982

HKTT: Khu Quyết Tâm, thị trấn Cẩm Khê, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 45 phút, ngày 20/12/2022, tại khu vực trước cửa quán karaoke 3G thuộc khu dân cư Nguyễn Du, phường Âu Cơ, thị xã Phú Thọ, Tổ công tác Đội CSĐT tội phạm về kinh tế ma túy Công an thị xã Phú Thọ phát hiện bắt quả tang Lê Minh P đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã thu giữ trong lòng bàn tay trái của P 01 gói giấy nhỏ mặt ngoài màu trắng. Trước sự chứng kiến của mọi người, Tổ công tác đã mở gói giấy ra kiểm tra phát hiện gói giấy có mặt trong màu trắng bạc, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng. P khai nhận đây là gói ma túy Heroine của P cất giữ để bán kiếm lời. Tổ công tác đã cho gói giấy thu giữ của P nêu trên vào 01 bì giấy dán kín yêu cầu P cùng mọi người ký tên lên bì giấy. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của P 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 358979092647336, có gắn sim số 0987018973. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với P về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và niêm P số ma túy thu giữ của P theo đúng quy định.

Cùng ngày 20/12/2022, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Phú Thọ đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Minh P tại khu dân cư Nguyễn Du, phường Âu Cơ, thị xã Phú Thọ. Quá trình khám xét không thu giữ gì.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Thọ ra Quyết định trưng cầu giám định chất bột, cục màu trắng thu giữ của P trong ngày 20/12/2022. Tại bản kết luận giám định số 37/ KL-KTHS ngày 23/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:

“Chất bột, cục màu trắng chứa trong 01 gói giấy mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu trắng bạc gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,421 gam

Heroine: số thứ tự 9, Danh, mục IA; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ;

Hoàn lại đối tượng giám định: 0,294 gam chất bột, cục màu trắng là mẫu vật còn lại trong bì niêm P cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm P trong 01 bì giấy được đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự và chữ ký của các thành phần tham gia niêm P tại các mép dán./.”

Ngay khi bị bắt quả tang và tại cơ quan điều tra, Lê Minh P khai nhận số ma túy P tàng trữ trên người trong ngày 20/12/2022 với mục đích khi có ai hỏi mua thì bán, ngoài ra không có mục đích gì khác. Ngoài hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để bán nêu trên, P còn tự khai nhận ngày 18/12/2022 tại nhà của mình P còn bán trái phép 01 gói ma túy (không xác định trọng lượng) cho Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1982, trú tại khu Quyết Tâm, thị trấn Cẩm Khê, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ với giá 200.000 đồng. Số tiền bán ma túy P đã tiêu sài cá nhân hết.

Căn cứ lời khai của P, Cơ quan điều tra đã triệu tập và làm việc với Nguyễn Mạnh H. Tại cơ quan điều tra, Hùng thừa nhận ngày 18/12/2022 Hùng có mua 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng của P. Khi làm việc với Cơ quan điều tra, Hùng đã tự giác giao nộp điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, đã qua sử dụng, có gắn thẻ sim số 0343251762 là chiếc điện thoại Hùng sử dụng để liên lạc mua ma túy với P. Cơ quan điều tra đã làm rõ hành vi P bán trái phép chất ma túy cho Hùng cụ thể như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 18/12/2022, Nguyễn Mạnh H dùng số điện thoại 0343251762 gọi điện đến số máy 0987.018.973 của P hỏi mua 200.000 đồng ma túy. Do có sẵn ma túy trong người nên P đồng ý và hẹn Hùng sang nhà P giao dịch. Khoảng 20 phút sau, Hùng đến nhà gặp và đưa cho P số tiền 200.000 đồng. P nhận tiền đưa lại cho Hùng 01 gói ma túy có đặc điểm mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu trắng bạc bên trong có chứa chất bột, cục màu trắng mà P đã chuẩn bị từ trước. Sau khi mua được ma túy, Hùng đã sử dụng hết cho bản thân tại ven đường gần khu vực Sân bay, thị xã Phú Thọ.

Về nguồn gốc số ma túy P tàng trữ trong ngày 20/12/2022 và số ma túy bán cho Hùng trong ngày 18/12/2022, P khai nhận mua của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ ở khu vực Chợ Mè, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ vào buổi sáng ngày 18/12/2022 với giá 800.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, P tách ra làm 03 phần, một phần P lấy ra sử dụng cho bản thân tại nhà P, một phần bán cho Hùng, số ma túy còn lại P cất giấu để bán nhưng chưa kịp bán thì bị Công an thị xã Phú Thọ bắt quả tang như đã nêu trên. P cũng khai nhận việc P mua bán, sử dụng ma túy tại nhà không có ai biết hay tham gia cùng.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Lê Minh P trong ngày 18/12/2022 tại khu vực chợ Mè thị xã Phú Thọ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Thọ đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được người này nên không đề cập xử lý.

Đối với Lê Minh P và Nguyễn Mạnh H đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an thị xã Phú Thọ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, hình thức phạt tiền, mức phạt: 1.500.000 đồng.

Bản cáo trạng số 21/CT-VKSTXPT ngày 11/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ truy tố Lê Minh P về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận ngày 18/12/2022, tại nhà ở của bị cáo ở khu dân cư Nguyễn Du, phường Âu Cơ, thị xã Phú Thọ, bị cáo đã thực hiện hành vi bán trái phép 01 gói ma túy heroine không xác định trọng lượng cho Nguyễn Mạnh H với giá 200.000 đồng. Đến ngày 20/12/2022, P thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,421 gam heroine để bán thì bị Công an thị xã Phú Thọ bắt quả tang tại khu vực trước cửa quán karaoke 3G thuộc khu dân cư Nguyễn Du, phường Âu Cơ, thị xã Phú Thọ. Số ma túy bị cáo bán và tàng trữ để bán trong 02 ngày 18 và 20/12/2022 bị cáo đều mua của một người không quen tại khu vực Chợ Mè, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ vào buổi sáng ngày 18/12/2022 với giá 800.000 đồng.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ giữ nguyên bản cáo trạng truy tố bị cáo Lê Minh P và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Lê Minh P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Lê Minh P từ 39 đến 42 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, bị cáo được trừ số ngày đã tạm giữ từ ngày 20/12/2022 đến ngày 29/12/2022.

b) Xử lý vật chứng, đồ vật tạm giữ

- Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1, Điều 47 BLHS; điểm b, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

+ Truy thu của Lê Minh P số tiền 200.000 đồng

+ Tịch thu tiêu hủy các đồ vật gồm: 0,294gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm P, dán kín trong 01 bì giấy bên ngoài có 05 hình dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán; 01 sim số 0987018973 thu giữ của Lê Minh P; 01 sim số 0987018973 thu giữ của Nguyễn Mạnh H.

+ Tịch thu của Lê Minh P 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 358979092647336 bán sung quỹ nhà nước.

+ Tịch thu của Nguyễn Mạnh H 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, đã qua sử dụng, số seri: 358979092647336 bán sung quỹ nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ân hận về hành vi mà bị cáo đã phạm, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Minh P đã khai nhận:

Ngày 18/12/2022, tại nhà Lê Minh P ở khu dân cư Nguyễn Du, phường Âu Cơ, thị xã Phú Thọ, Lê Minh P đã thực hiện hành vi bán trái phép 01 gói ma túy heroine không xác định trọng lượng cho Nguyễn Mạnh H với giá 200.000 đồng, số ma túy mua được Hùng đã sử dụng hết cho bản thân. Đến ngày 20/12/2022, P còn thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,421 gam heroine để bán bị Công an thị xã Phú Thọ bắt quả tang tại khu vực trước cửa quán karaoke 3G thuộc khu dân cư Nguyễn Du, phường Âu Cơ, thị xã Phú Thọ. Số ma túy bị cáo đã bán và tàng trữ đã bán có chung nguồn gốc, vì vậy bị cáo P phải chịu TNHS về hành vi mua bán trái phép chất ma túy gồm 01 lần bán cho Hùng và tàng trữ 0,421g Heroine để bán.

Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, kết luận trưng cầu giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ pháp lý kết luận: Bị cáo Lê Minh P phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 điều 251 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ truy tố bị cáo về tội danh cũng như điều luật là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Đối với Lê Minh P đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an thị xã Phú Thọ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, hình thức phạt tiền, mức phạt: 1.500.000 đồng xét thấy là phù hợp.

Kết quả điều tra có đủ cơ sở xác định, ngày 18/12/2022 Nguyễn Mạnh H có mua 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng của Lê Minh P. Số ma túy mua được, Hùng đã sử dụng hết cho bản thân. Vì vậy, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hùng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức phạt tiền, mức phạt: 1.500.000 đồng xét thấy là phù hợp.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho P, quá trình điều tra P không cung cấp được tên, tuổi, địa chỉ của người đàn ông này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Thọ đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được người này nên không đề cập xử lý xét thấy là phù hợp.

Về chiếc sim điện thoại 0343251762 mà Hùng sử dụng để liên lạc mua bán ma túy với P, kết quả điều tra xác định sim này đăng ký thông tin của ông Nguyễn Văn Hào, sinh năm 1959, trú tại khu Quyết Tâm, thị trấn Cẩm Khê, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ (bố đẻ của Hùng). Quá trình xác minh làm rõ do trước đây ông Hào có cho Hùng mượn căn cước công dân để đăng ký sim điện thoại, tuy nhiên Hùng sử dụng như thế nào thì ông Hào không biết. Vì vậy, không đặt ra xem xét đối với ông Nguyễn Văn Hào là phù hợp

Tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định: “Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:…”

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước được pháp luật hình sự bảo vệ nên cần phải được xử lý nghiêm. Bị cáo đã bị Công an phường P Châu xử phạt hành chính 03 lần, Công an phường Âu Cơ xử phạt hành chính 03 lần và Công an phường Hùng Vương xử phạt hành chính 01 lần đều về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo bị đưa ra xét xử 05 lần về trộm cắp tài sản cũng như tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng, rèn luyện bản thân, không từ bỏ được ma túy, không chịu lao động, làm ăn lương thiện mà tiếp tục lao vào con đường nghiện ma túy dẫn đến có hành vi phạm tội. Vì vậy, bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi đã gây ra, cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội. Song khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần áp dụng hình phạt như Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ đề nghị là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung:

Tại khoản 5 điều 251 của Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bị cáo Lê Minh P hiện đang sống cùng gia đình trên thửa đất của bố mẹ P. Hiện bố mẹ P đã mất nhưng chưa chia thừa kế đối với các tài sản nhà và đất này. Ngoài tài sản bị thu giữ, P không có tài sản nào khác có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với P là phù hợp.

. Về vật chứng và tài sản, đồ vật tạm giữ:

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Thọ thu giữ và chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ gồm:

Đối với 0,294gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm P, dán kín trong 01 bì giấy bên ngoài có 05 hình dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán hoàn lại sau giám định là vật nhà nước nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 sim số 0987018973 thu giữ của Lê Minh P; 01 sim số 0987018973 thu giữ của Nguyễn Mạnh H, P và Hùng đã sử dụng 02 thẻ sim này để liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen đã qua sử dụng, số IMEI: 358979092647336 thu giữ của Lê Minh P và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen đã qua sử dụng, số seri: 358979092647336, thu giữ của Nguyễn Mạnh H; kết quả điều tra xác định P và Hùng sử dụng 02 chiếc điện thoại này để liên lạc, trao đổi mua bán ma túy nên cần tịch thu bán sung quỹ nhà nước.

Đối với số tiền 200.000 đồng Lê Min P thu được do bán ma túy cho Nguyễn Mạnh H cần truy thu nộp ngân sách nhà nước.

Về án phí: Bị cáo Lê Minh P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS; điểm b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm b, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1]. Tuyên bố bị cáo Lê Minh P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Minh P 42 ( bốn mươi hai) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 20/12/2022 đến ngày 29/12/2022. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

[2]. Về xử lý vật chứng, đồ vật tạm giữ :

Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm P số 37/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ bên trong có 0,294g Heroin là mẫu vật hoàn lại sau giám định;

Tịch thu tiêu hủy 01 sim số 0987018973 thu giữ của Lê Minh P và 01 sim số 0987018973 thu giữ của Nguyễn Mạnh H;

Tịch thu của Lê Minh P 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen đã qua sử dụng, số IMEI: 358979092647336 và tịch thu của Nguyễn Mạnh H 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, đã qua sử dụng, số seri: 358979092647336 bán sung quỹ nhà nước.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Thọ với Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ ngày 11 tháng 4 năm 2023).

Truy thu của Lê Minh P số tiền 200.000 đồng để nộp Ngân sách nhà nước.

[3]. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Minh P phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày giao hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ