vanban.org

Bản án 28/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương Tuyên án 17/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và mức hình phạt: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Đặng Văn N 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 05/7/2022. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn N phạm tôi "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và mức hình phạt: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2023/HS-ST
Ngày: 17-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thắm;

2. Ông Lương Thanh Nhàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Giang – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Minh Sơn – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 243/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2023, đối với bị cáo:

Đặng Văn N, sinh năm 1989 tại tỉnh Cà Mau; hộ khẩu thường trú: Khóm 6, phường 8, thành phố C, tỉnh Cà Mau; địa chỉ tạm trú: Nhà trọ N, ấp K, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Thành C, sinh năm 1953 (đã chết) và bà Hồ Thị H, sinh năm 1953; bị cáo có vợ là Nguyễn Hồng T, sinh năm 1994; bị cáo có 01 con sinh năm 2015;

Tiền án:

Ngày 10/10/2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 165/2011/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/02/2012, chưa chấp hành xong phần án phí và phần bồi thường dân sự.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

Ngày 26/5/2006, bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 84/2006/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/02/2007, chưa chấp hành xong phần án phí.

Ngày 09/4/2008, bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xử phạt 08 tháng 10 ngày tù (bằng thời hạn tạm giữ, tạm giam) về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Bản án số 59/2008/HSST, chấp hành xong án phí ngày 17/3/2009.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/7/2022 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Hồng T, sinh năm 1994; địa chỉ thường trú: Khóm 6, phường 8, thành phố C, tỉnh Cà Mau; địa chỉ tạm trú: Ấp K, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Có mặt.

- Người làm chứng: Ông Võ Hoàng P. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 05/7/2022, tại khu vực cổng Khu công nghiệp R, thuộc ấp R, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an thị xã Bến Cát phối hợp với Công an xã A, phát hiện Đặng Văn N đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario màu xanh đen, biển số 69B1-626.68 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, lực lượng Công an phát hiện bên trong túi quần dài bên phải, phía trước N đang mặc có 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng được xếp gấp lại, bên trong tờ tiền có 02 đoạn ống hút bằng nhựa hàn kín 02 đầu, bên trong chứa tinh thể màu trắng. N khai chất tinh thể màu trắng trong 02 ống hút nhựa hàn kín là ma túy đá (Methamphetamine) của N vừa mua được để sử dụng nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với N.

Vật chứng thu giữ: 02 đoạn ống hút bằng nhựa hàn kín hai đầu bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario màu xanh đen, biển số 69B1-626.68; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, gắn sim số 0945707363.

Tại cơ quan điều tra, Đặng Văn N khai nhận: N bắt đầu sử dụng ma túy đá từ khoảng tháng 5/2021. Khoảng 17 giờ ngày 05/7/2022, N đang ở nhà trọ N thuộc ấp K, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương thì điện thoại cho đối tượng tên N1 (không lai lịch) hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá để sử dụng thì được N1hẹn đến Ngã ba R thuộc ấp R, xã A, thị xã B để mua bán. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, N điều khiển xe mô tô biển số 69B1-626.68 đến điểm hẹn thì N1 đưa cho N 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng gấp đôi, bên trong có 02 đoạn ống hút bằng nhựa hàn kín hai đầu, bên trong chứa ma túy đá. N bỏ ma túy đá vào túi quần bên phải phía trước đang mặc và đưa cho N1 số tiền 300.000 đồng rồi điều khiển xe mô tô về phòng trọ. Khoảng 18 giờ cùng ngày, khi N điều khiển xe mô tô biển số 69B1-626.68 về đến phía trước khu vực cổng Khu công nghiệp R, thuộc ấp R, xã A thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện ma túy, bắt giữ cùng tang vật.

Theo Kết luận giám định số 330/MT-PC09 ngày 14/7/2022 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Mẫu tinh thể bị thu giữ gửi giám định là ma túy, có trọng lượng 0,2722 gam, loại Methamphetamine.

Xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, biển số 69B1-626.68 do chị Nguyễn Hồng T là vợ của Đặng Văn N đứng tên chủ sở hữu.

Theo Kết luận định giá tài sản ngày 21/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Bến Cát, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, màu xanh đen, biển số 69B1-626.68, trị giá 33.370.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 17/CT-VKSBC ngày 29/12/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Đặng Văn N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát trong phần tranh luận tại phiên tòa, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đặng Văn N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Đặng Văn N mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như nội dung Cáo trạng truy tố, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo không có tranh luận gì với đại diện Viện Kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo Đặng Văn N đã khai nhận: Khoảng 18 giờ ngày 05/7/2022, bị cáo mua ma túy để trong túi quần đang mặc nhằm mục đích để sử dụng, đến khu vực phía trước cổng Khu công nghiệp R, thuộc ấp R, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bị cáo tàng trữ trái phép 0,2722 gam Methamphetamine.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Xét bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Về nhận thức, bị cáo hoàn toàn biết ma tuý là loại độc dược gây nghiện do Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép. Nhưng vì thỏa mãn cơn nghiện của bản thân nên bị cáo vẫn cố tình phạm tội, bất chấp hậu quả. Khối lượng chất ma túy mà bị cáo tàng trữ, cất giấu là 0,2722 gam ma túy loại Methamphetamine. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Ma túy là một loại chất độc gây ra tác hại rất lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và cũng là mầm mống lan truyền căn bệnh của xã hội như HIV,... Ma túy còn là nguyên nhân dẫn đến những loại tội phạm khác.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Như vậy, bản Cáo trạng số 17/CT-VKSBC ngày 29/12/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Đặng Văn N về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Do đó, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục cho bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có 01 tiền án: Ngày 10/10/2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 165/2011/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/02/2012, chưa chấp hành xong phần án phí và phần bồi thường dân sự. Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp và có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với đối tượng tên N1 đã bán ma túy cho bị cáo, hiện không rõ nhân thân, lai lịch. Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát tiếp tục điều tra, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số vụ 330/PC09 có chữ ký hình dấu đỏ, bên trong có chữ M=0,1845 gam Methamphetamine (theo kết luận giám định số 330/KL-KTHS(MT) ngày 14/7/2022) là chất thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ. Nên cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen (model TA-1034, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được) và 01 (một) sim số 0945707363 (Seri số 89840200010918632936) là tài sản của bị cáo. Là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 69B1-62668, số máy: JM51E1799272 là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của của bị cáo Đặng Văn N và bà Nguyễn Hồng T. Là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước ½ giá trị chiếc xe và trả lại cho bà Nguyễn Hồng T số tiền trị giá ½ chiếc xe.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136, Điều 260, khoản 1 Điều 268, Điều 269 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh và mức hình phạt: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo Đặng Văn N 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 05/7/2022.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tuyên tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số vụ 330/PC09 có chữ ký hình dấu đỏ, bên trong có chữ M=0,1845 gam Methamphetamine (theo kết luận giám định số 330/KL-KTHS(MT) ngày 14/7/2022).

- Tuyên tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước: ½ giá trị chiếc xe mô tô biển số 69B1-62668, số máy: JM51E1799272, trả lại cho bà Nguyễn Hồng T số tiền trị giá ½ chiếc xe mô tô biển số 69B1-62668, số máy: JM51E1799272, tại thời điểm Cơ quan thi hành án xử lý tang vật.

Xe không kiểm tra được số khung (xe không gương bên phải, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được).

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03/01/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đặng Văn N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án./.

Cỡ chữ