- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Minh T vầ đồng phạm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Lê Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:28/2023/HS-ST Ngày: 15-03-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hoài Nam
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hữu Hoà
Ông Lê Văn Thắng
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Kim Phượng- Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoà - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2023/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 03 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lê Minh T, sinh năm 1964; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKTT và nơi ở: Số 148 H, phường P, TP N, tỉnh N; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Văn hoá: 7/10; Nghề nghiệp: Tự do; con ông Lê Duy C, đã chết; con bà Trần Thị S, sinh năm 1936; Gia đình có 03 chị em; bị cáo là con thứ 2; vợ: Lê Thị Thu H, sinh năm 1968; bị cáo có 01 con, sinh năm 1987;
Tiền án:
- Ngày 21/9/2004 TAND tỉnh Nam Định xử phạt 09 tháng tù tội Đánh bạc nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng.
- Ngày 13/7/2005 TAND TP Nam Định xử phạt 30 tháng tù tội Mua bán trái phép chất ma túy. Tổng hợp với 08 tháng 19 ngày tù của bản án năm 2004 của TAND tỉnh Nam Định buộc T phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 38 tháng 19 ngày tù.
- Ngày 15/12/2008 TAND TP Nam Định xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Ngày 14/7/2015 TAND TP Nam Định xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 09/6/2021.
- Tiền sự: Không
- Bị can bị bắt quả tang, tạm giữ ngày 22/11/2022, sau đó chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam, Công an tỉnh Nam Định.
2. Họ và tên: Lê Thị Hoàng Y, sinh năm 1991; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKTT: 45Q, ô 18 phường H, TP N, tỉnh N; Nơi ở: 16/49 L, phường H, TP N, tỉnh N; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông: Lê Văn T, sinh năm 1957, con bà: Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1962; Gia đình có 02 chị em; bị cáo là con thứ 2; chồng: Vũ Đăng P, sinh năm 1986; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án: tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 23/6/2020 bị Công an xã Mỹ Xá xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ ngày 21/11/2022, sau đó chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam, Công an tỉnh Nam Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 19 giờ 45 phút ngày 21/11/2022, tổ công tác của Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh Nam Định đang làm nhiệm vụ tại khu vực đầu ngõ 49 đường L, phường H, thành phố (TP) N, tỉnh N thì phát hiện 01 người phụ nữ đang dừng xe máy một mình có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác mời người làm chứng tiến hành kiểm tra, người phụ nữ khai tên là Lê Thị Hoàng Y, sinh năm 1991, nơi thường trú: 45Q ô 18, phường H, TP N, tỉnh N; Nơi ở hiện tại: 16/49 đường L, phường H, TP N, tỉnh N. Quá trình kiểm tra thu giữ trong túi quần dài Y đang mặc trên người 01 gói giấy màu trắng, bên trong có chứa 01 túi nilong màu trắng có kích thước khoảng (2x3)cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, Y khai nhận đó là gói ma tuý đá, nguồn gốc của Lê Minh T, sinh năm: 1964, trú tại: 148 H, phường P, TP N, tỉnh N. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng thu giữ của Y , ký hiệu là A. Ngoài ra, tạm giữ của Y 01 điện thoại di động đã cũ, 01 xe máy đã cũ BKS 18P1-9827, 01 căn cước công dân. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Thị Hoàng Y không thu giữ gì.
Căn cứ tài liệu điều tra thu thập được, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Nam Định tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Minh T, sinh năm: 1964, trú tại: 148 H phường P, TP N, tỉnh N thu giữ:
- Trên giường ngủ tầng 2:
+ 01 hộp thuốc lá Thăng Long bằng kim loại màu vàng có kích thước khoảng (10x10x2)cm, bên trong có đựng 05 túi nilông đều màu trắng, đều có kích thước khoảng (2x2)cm, bên trong 05 túi này đều có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng (niêm phong ký hiệu K).
+ 01 túi nilong màu trắng có kích thước khoảng (2x5)cm bên trong có đựng 06 gói giấy bạc màu vàng và 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong 07 gói này đều có chứa chất bột dạng cục màu trắng (niêm phong ký hiệu K1).
+ 01 cân điện tử màu trắng có kích thước khoảng (5x15x2) cm.
Ngoài ra, còn thu giữ của T 01 điện thoại di động đã cũ, 1.000.000 đồng, 01 xe máy màu đỏ đã cũ BKS 18F6- 4592, 01 căn cước công dân. Lê Minh T khai nhận số mẫu vật thu giữ tại nhà là ma túy đá và Hêroin, T cất giấu mục đích để sử dụng cho bản thân.
Tiến hành trưng cầu giám định về số mẫu vật nghi là ma túy tại Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định kết luận:
- Tại bản kết luận giám định số: 1697/KL-KTHS ngày 23/11/2022 Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định, kết luận: Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 túi nilông màu trắng, ký hiệu A gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Khối lượng mẫu A: 0,852 gam.
- Tại bản kết luận giám định số 1702/KL-KTHS ngày 24/11/2022 Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định, kết luận:
+ Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 05 gói nilông nhỏ màu trắng ký hiệu K gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Tổng khối lượng mẫu K: 2,319 gam.
+ Mẫu bộ dạng cục màu trắng trong 06 gói nhỏ giấy bạc màu vàng và trong 01 gói nhỏ giấy bạc màu trắng, ký hiệu K1 gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Heroin. Tổng khối lượng mẫu K1: 0,913 gam.
Quá trình điều tra Lê Thị Hoàng Y và Lê Minh T khai nhận:
Sáng ngày 16/11/2022, Lê Minh T đi một mình đến khu vực chân cầu Đ, TP N gặp một người đàn ông không quen biết, T hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy đá và Hêrôin, người này nhất trí. T đưa cho người này 1.000.000 đồng thì nhận được một túi nilong màu đen, kiểm tra bên trong có ma túy đá và Hêrôin, T cất giấu mang về nhà mục đích để sử dụng cho bản thân. Do quen biết từ trước, trưa ngày 16/11/2022 Lê Thị Hoàng Y điện thoại xin T 01 gói ma túy đá để sử dụng cho bản thân, T đồng ý. Đến tối cùng ngày T đến khu vực gần nhà Y , gặp đưa cho Y 01 gói ma túy đá rồi T đi về. Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 21/11/2022 Y cất giấu trong túi quần gói ma túy đá T cho đi tìm chỗ để sử dụng thì bị cơ quan Công an phát hiện bắt giữ. Sau đó, cơ quan điều tra đã bắt giữ, khám xét khẩn cấp tại nơi ở Lê Minh T thu giữ số ma túy còn lại mà T đang cất giấu tại nhà để sử dụng cho bản thân.
Quá trình điều tra, Lê Minh T và Lê Thị Hoàng Y thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên.
Bản cáo trạng số 09/QĐ-VKSNĐ-P1 ngày 16-01-2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định truy tố Lê Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017 (BLHS), truy tố Lê Thị Hoàng Y về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS,
Tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố, các bị cáo rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ để các bị cáo sớm có cơ hội trở lại với gia đình và xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định luận tội: Giữ nguyên nội dung cáo trạng và quyết định đã truy tố. Sau khi đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định đề nghị xử phạt: Bị cáo Lê Minh T từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù, bị cáo Lê Thị Hoàng Y từ 12 (mười hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo; về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên trả cho bị cáo T 01 căn cước công dân, 01 điện thoại di động đã cũ và số tiền 1.000.000 đồng nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án; trả cho bị cáo Y 01 căn cước công dân, 01 điện thoại di động đã cũ. Tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe máy màu đỏ đã cũ thu giữ của Lê Minh T; Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý và đồ vật còn lại trong vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan và người tiến hành tố tụng. Do đó, có cơ sở xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ căn cứ kết luận: Ngày 16-11-2022, Lê Minh T mua ma tuý của một người đàn ông không quen biết mang về cất giấu nhằm mục đích sử dụng cho bản thân tổng cộng 4,084 gam Methamphetamine và Heroin. Trong đó cất giấu tại nhà ở 2,319 gam Methamphetamine, 0,913 gam Heroin và cho Y 0,825 gam Methamphetamine để Y sử dụng bị phát hiện bắt quả phạm tội. Mặt khác, Lê Minh T có 04 tiền án, chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này của T thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Do vậy, hành vi của Lê Minh T đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm o Khoản 2 Điều 249 BLHS. Ngày 21-11-2022, Lê Thị Hoàng Y có hành vi tàng trữ 0,825 gam Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của Lê Thị Hoàng Y đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 BLHS nên quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định về tội danh, khung khoản Điều luật áp dụng là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý, gây bất bình và dư luận xấu trong xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là trái pháp luật, nhận thức được tệ nạn ma tuý đang là hiểm họa của cả cộng đồng và xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn và nhiều loại tội phạm nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do vậy, hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải được xử lý nghiêm khắc, mới đáp ứng yêu cầu của công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo Lê Minh T có 04 tiền án chưa được xoá, lần phạm tội này là tái phạm nguy hiểm, tuy nhiên đây là tình tiết định khung hình phạt, nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 BLHS, do đó các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo” theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Trên cơ sở xem xét cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, đối chiếu với các quy định hướng dẫn thi hành BLHS, Hội đồng xét xử thấy, nhân thân bị cáo T đã rất nhiều lần bị đưa ra xét xử, bị cáo đã từng 03 lần bị xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân, vẫn tiếp tục phạm tội với mức độ ngày càng nghiêm trọng, vì vậy cần phải ấn định cho bị cáo mức hình phạt tương đối nghiêm khắc trong khung hình phạt đã truy tố, mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Trường hợp bị cáo Y , nhân thân bị cáo đã bị xử lý hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Do vậy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm mục đích trừng trị, cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có công việc ổn định, nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà.
Tình tiết liên quan: Đối với người đàn ông bán ma tuý cho Lê Minh T như T khai. Do T không biết nhân thân, lai lịch của người này nên cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh xử lý.
Xử lý vật chứng:
- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Wave BKS 18P1- 9827 thu giữ của Y , tài liệu điều tra xác định chiếc xe là của anh Vũ Đăng P , sinh năm: 1986, nơi ở hiện tại: 16/49 L, phường H, TP N(chồng Y ).
- Đối với số tiền 1.000.000đồng (Một triệu đồng) thu giữ của bị cáo Lê Minh T là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, nên tuyên trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án;
- Đối với 01 phong bì có ghi số 1697/KL-KTHS được niêm phong bởi 03 hình dấu tròn màu đỏ, 01 phong bì có ghi số 1702/Kl-KTHS, (K+K1) được niêm phong bởi 03 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định, bên trong chứa ma tuý là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và các vật chứng không có giá trị sử dụng gồm: 01 vỏ hộp thuốc lá Thăng Long bằng kim loại màu vàng, 01 cân điện tử màu trắng thu giữ của Lê Minh T tuyên tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với 02 điện thoại di động đã cũ, 01 căn cước công dân thu giữ của Lê Minh T, 01 căn cước công dân thu giữ của Lê Thị Hoàng Y không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho các bị cáo.
- Đối với 01 xe máy màu đỏ đã cũ BKS 18F6-4592 thu giữ của Lê Minh T, tài liệu điều tra xác định chiếc xe máy thu giữ trên có BKS 18F6-4592 không phải là biển kiểm soát thực tế của xe, thuộc diện không đủ điều kiện để lưu hành, không xác định được chủ sở hữu hợp pháp. Do vậy, tuyên tịch thu hoá giá sung quỹ Nhà nước.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS
Tuyên bố: Lê Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Lê Minh T 05 (năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS
Tuyên bố: Lê Thị Hải Y phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Lê Thị Hải Y 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
3. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
- Tuyên tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì có ghi số 1697/KL-KTHS được niêm phong bởi 03 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định, có các chữ ký, dòng chữ Lê Thị Hoàng Y, Đoàn Trọng T, Bùi Xuân M, 01 phong bì có ghi số 1702/KL-KTHS, (K+K1) được niêm phong bởi 03 hình dấu tròn mảu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định, có các chữ ký, dòng chữ Lê Minh T, Nguyễn Đăng K, Hoàng Đình V, 01 vỏ hộp thuốc lá Thăng Long bằng kim loại màu vàng có kích thước khoảng (10x10x2)cm, 01 cân điện tử màu trắng có kích thước khoảng (5x15x2)cm.
- Tuyên tịch thu hoá giá sung quỹ Nhà nước 01 xe máy màu đỏ đã cũ BKS 18F6-4592 (thu giữ của Lê Minh T);
- Tuyên trả lại cho Lê Minh T 01 căn cước công dân, 01 điện thoại di động đã cũ, số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) thu giữ của Lê Minh T nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án; trả lại cho Lê Thị Hoàng Y 01 căn cước công dân, 01 điện thoại di động đã cũ thu giữ của Lê Thị Hoàng Y.
(Chi tiết cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng số 45/23 ngày 18-01-2023, uỷ nhiệm chi số 02 ngày 30-01-2023 giữa Công an tỉnh Nam Định và Cục thi hành án dân sự tỉnh Nam Định);
4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS, buộc các bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND+VKSND Cấp cao tại Hà Nội; - Công an tỉnh Nam Định; - VKSND tỉnh Nam Định; - Trại tạm giam công an tỉnh NĐ; - Cục THADS tỉnh Nam Định; - Lưu hồ sơ vụ án + THS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Hoài Nam |