- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn D - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lò Văn D 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 06/02/2023.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2023/HS-ST Ngày: 22 – 5 – 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Đông.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Vi Anh Tú.
2/ Ông Lý Văn Huân.
- Thư ký phiên toà: Ông Lô Văn Linh – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Hiếu – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2023/TLST – HS ngày 20 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn D, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1996 tại huyện QC, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Bản TM, xã CT, huyện QC, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 5/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn T (đã chết) và bà Lương Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền án: Năm 2021 bị Tòa án nhân dân huyện QC, tỉnh Nghệ An xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 70/2021/HSST ngày 20/9/2021, chấp hành án phạt tù xong ngày 30/4/2022 (chưa hết thời hạn được xem là đã xóa án tích); tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/02/2023 đến nay. (Có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang – Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước, tỉnh Nghệ An. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 8 giờ 00 phút ngày 06/02/2023, Lò Văn D xin đi nhờ xe từ nhà của mình ở bản TM, xã CT, huyện QC đến ngã ba CT1 thuộc xã CT, huyện QC, tỉnh Nghệ An. Sau đó tiếp tục bắt xe khách lên huyện QP, tỉnh Nghệ An với mục đích tìm mua ma túy sử dụng, sau khi xuống xe tại khu vực xã MN, huyện QP, Dính đi bộ một mình, trên đường đi gặp một người đàn ông không quen biết, qua
1
bắt chuyện làm quen biết người đàn ông có ma túy bán nên D hỏi mua với số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), người đàn ông đồng ý bán cho D 01 (Một) gói ma túy được bọc bên ngoài bằng bao nilon màu trắng. Sau khi mua được ma túy D bắt xe khách đi về, đến khu vực ngã ba CT1 xuống xe và tiếp tục xin đi nhờ xe của người dân về nhà, đến khu vực nghĩa địa bản TM, xã CT, D xuống xe đi bộ một mình, sau đó ghé vào gốc cây gần nghĩa địa đưa gói ma túy ra sử dụng một ít, số ma túy còn lại cất giấu vào túi quần bên phải đang mặc, đến khoảng 12 giờ 35 phút khi D đang đi bộ một mình tại bản TM, xã CT tổ công tác Công an xã CT đã yêu cầu kiểm tra hành chính, phát hiện thu giữ trong túi quần bên phải D đang mặc 01 gói nhỏ được bọc bằng bao nilon màu trắng, bên trong có chứa bột nén màu trắng (nghi là ma túy) nên tiến hành lập biên bản, niêm phong vật chứng bàn giao người và tang vật để điều tra xử lý theo quy định.
Tại biên bản mở niêm phong vật chứng xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại, lập ngày 06/02/2023 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, xác định: Bên trong gói niêm phong có 01 (một) gói chất rắn màu trắng được bọc bằng mảnh bao nilon màu trắng (nghi là ma túy). Sau khi loại bỏ bao gói, cân trọng lượng số chất rắn màu trắng có khối lượng là 0,04g (không phẩy không bốn gam) cán bộ kỹ thuật hình sự lấy toàn bộ chất rắn màu trắng nói trên để gửi giám định khối lượng và định tính chất ma túy. Số vật chứng còn lại là mảnh bao nilon màu trắng và vỏ bao niêm phong cũ được niêm phong lại theo quy định.
Kết luận giám định số: 147/KL-KTHS(Đ2-MT), ngày 10/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu chất rắn màu trắng thu giữ của Lò Văn D gửi tới giám định là ma túy (Heroine). Số chất rắn màu trắng (01 gói) thu giữ của Lò Văn D có khối lượng là 0,04g (không phẩy không bốn gam).”
Bản cáo trạng số: 34/CT-VKS-QC ngày 18/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, truy tố bị cáo Lò Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn D từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam.
Buộc bị cáo chịu tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, ngoài ra đề nghị không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy vỏ, bao gói được niêm phong theo quy định.
- Lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo: Về tội danh, điều luật áp dụng, mức khung hình phạt hoàn toàn nhất trí theo như truy tố của Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét đến các yếu tố bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, trình
2
độ học vấn thấp nên nhận thức về pháp luật hạn chế, bị cáo phạm tội với mục đích chỉ để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân, số lượng ma túy thu giữ của bị cáo ít, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Từ những phân tích đã nêu đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo ở mức 01 năm tù ở mức đầu khung hình phạt là phù hợp. Ngoài ra đề nghị xem xét không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với bị cáo, đối với phần xử lý vật chứng và án phí đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh luận bị cáo không có ý kiến bổ sung thêm vào lời bào chữa và không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng tại phiên tòa bị cáo nhận tội và xin xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Những chứng cứ xác định có tội: Căn cứ những tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra Công an thu thập có tại hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại; kết luận giám định; bản tự khai, biên bản hỏi cung, lấy lời khai của bị cáo và người liên quan, phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, cũng như những tài liệu, chứng cứ khách quan khác thu thập có trong hồ sơ, đủ căn cứ xác định:
Khoảng 12 giờ 35 phút, ngày 06/02/2023 tại bản TM, xã CT, huyện QC, tỉnh Nghệ An. Tổ công tác Công an xã CT kiểm tra hành chính, bắt quả tang Lò Văn D có hành vi tàng trữ 01 gói ma túy Heroine được gói bằng mảnh bao nilon màu trắng, có khối lượng sau khi loại bỏ bao bì là 0,04g (Không phẩy không bốn gam), với mục đích để sử dụng, tuy khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ để sử dụng dưới 0,1g (không phẩy một gam) nhưng bị cáo có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa hết thời hạn được xem là đã xóa án tích lại tiếp tục phạm tội, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự thì hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu là có căn cứ, đúng pháp luật, đúng người và đúng tội.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
3
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an ninh xã hội tại địa phương, bởi ma túy là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và bệnh truyền nhiễm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự, trước đó đã bị xử phạt tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích, lại tiếp tục có hành vi cất giấu chất ma túy với mục đích sử dụng, tuy khối lượng ma túy thu của bị cáo dưới 0,1g (Không phẩy một gam), nhưng bị cáo đang có tiền án nên bị truy tố theo quy định. Bản thân bị cáo biết rõ và nhận thức được tác hại của chất ma túy, đã từng bị xử phạt tù nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện, từ bỏ tệ nạn ma túy mà vẫn cố ý phạm tội, tiếp tục tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm để sử dụng, thỏa mãn nhu cầu bất hợp pháp của cá nhân, nên cần lên cho bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để bị cáo có thời gian cải tạo, giáo dục, sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân tốt, sống có ích cho xã hội và răn đe giáo dục phòng ngừa chung.
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đó là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng thêm hình phạt bổ sung. Tuy nhiên theo tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo cho thấy, bị cáo đang bị tạm giam, gia đình thuộc diện hộ nghèo, là lao động tự do, sống phụ thuộc gia đình, không có tài sản riêng đảm bảo cho việc thi hành án, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Quá trình điều tra Cơ quan điều tra Công an không xác định được nhân thân, lai lịch của người bán ma túy cho bị cáo theo như bị cáo khai nhận, nên không có cơ sở để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
Về vật chứng: Khối lượng ma túy Heroine 0,04g (không phẩy không bốn gam) thu giữ của bị cáo đã sử dụng giám định hết, số vật chứng còn lại gồm mảnh bao nilon màu trắng và vỏ bao gói, phong bì niêm phong là những vật không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy theo quy định.
Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lò Văn D 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 06/02/2023.
2. Về vật chứng: Căn cứ vào khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
4
Tịch thu tiêu hủy mảnh bao nilon màu trắng và vỏ bao niêm phong cũ được niêm phong trong phong bì thư dán kín theo quy định.
(Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng, lập ngày 18/4/2023 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳ Châu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An).
3. Án phí: Căn cứ vào Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lò Văn D chịu án phí Hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Quỳ Châu; - Cơ quan điều tra CA huyện Quỳ Châu; - Cơ quan THAHS CA huyện Quỳ Châu; - Cơ quan THADS huyện Quỳ Châu; - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An; - UBND xã CT, huyện QC, ỉnh Nghệ An; - Bị cáo; - lưu HS, VP; 5 | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hà Văn Đông |