- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2023/HS-ST. Ngày: 13 - 4 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Vũ Quang Chung.
Hội thẩm nhân dân: ông Hà Quang Văn và ông Nguyễn Văn Phiếu.
- Thư ký phiên toà: ông Bùi Quang Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên toà: ông Trương Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2023/HSST ngày 22/3/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2023/QĐXXST- HS ngày 31/3/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn B sinh năm 1981, tại Ninh Bình; giới tính: Nam; nơi cư trú: thôn Đ, xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 03/12; con ông: Nguyễn Văn D, con bà: Nguyễn Thị B (Đều đã chết); vợ: Lê Thị H, có 02 con; con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiềnsự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/12/2022 đến ngày 02/01/2023, chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình, cho đến nay; có mặt.
*Người làm chứng: anh Trần Văn H và anh Đinh Công T; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn B là người sử dụng ma túy, loại Heroine. Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 24/12/2022 B một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu ANGEL màu nâu, biển kiểm soát 35F8-4233 từ nhà ở thôn Đ, xã V, huyện N đến xã S để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Khi B đi đến khu vực thôn Đ, xã S, huyện N thì gặp một người nam giới (B không biết tên, tuổi, địa chỉ) đang đứng ở bên đường trông giống người nghiện ma túy. B đi lại gần người nam giới này và hỏi:“Anh có ma túy không, bán cho em ba trăm”, mục đích B hỏi mua của người nam giới này 01 gói Heroine với giá 300.000 đồng, người nam giới hiểu ý của B nên đồng ý nói: “Có, đưa tiền đây”. Nguyễn Văn B lấy ra số tiền 300.000 đồng đưa cho người nam giới, người này cầm tiền rồi đưa cho B 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng. B mở gói nhỏ trên ra kiểm tra thấy bên trong là chất bột dạng cục màu trắng, xác định đúng là Heroine nên gói lại và cất giấu vào túi áo ngực bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. Người nam giới bán ma túy cho B cũng bỏ đi luôn.
Hồi 12 giờ 15 phút cùng ngày, B điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 35F8-4233 đi đến khu vực đường liên xã thuộc thôn L, xã S thì gặp Tổ công tác Công an xã S đang làm nhiệm vụ. Tổ công tác phát hiện thấy B có nhiều biểu hiện giống người nghiện ma túy nên đã yêu cầu B dừng xe, xuống xe để kiểm tra. Khi gặp Tổ công tác, biết bản thân không thể che giấu được hành vi cất giấu trái phép chất ma túy trên người nên Nguyễn Văn B đã tự giác giao nộp 01 gói nhỏ được gói bằng giấy bạc màu trắng từ túi áo ngực bên trái B đang mặc và khai nhận đó là 01 gói Heroine của B mua về nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ của Nguyễn Văn B 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng, bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng; số tiền 190.000 đồng (Một trăm chín mươi nghìn đồng) và 01 xe mô tô xe mô tô nhãn hiệu ANGEL màu nâu, biển kiểm soát 35F8-4233.
Tổ công tác Công an xã S đã tiến hành kiểm tra 01 xe mô tô xe mô tô nhãn hiệu ANGEL màu nâu, biển kiểm soát 35F8-4233 mà B sử dụng để đi mua ma túy, quá trình kiểm tra không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng chứa trong 01 gói nhỏ thu giữ của Nguyễn Văn B có khối lượng cụ thể: là 0,16 gam (ký hiệu M) để gửi trưng cầu giám định về khối lượng và loại chất ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 59/KL-KTHS-MT ngày 01/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận:
“Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1543 gam, là ma túy, loại Heroine (Heroin)
Heroin là chất ma túy thuộc bảng Danh mục IA, số thứ tự 9; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/5/2022 của Chính phủ”.
Tại bản cáo trạng số: 29/CT-VKSNQ-HS ngày 17/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ của vụ án, hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Nguyễn Văn B từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24/12/2022.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Đề nghị:
- Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong.
- Trả lại cho Nguyễn Văn B số tiền 190.000 đồng
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội, bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà, bị cáo nhận tội, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa được chứng minh bằng lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; lời khai người làm chứng; bản kết luận giám định; vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được xem xét tại phiên tòa. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Hành vi tàng trữ 0,1543 gam ma túy loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân ngày 24/12/2022, của Nguyễn Văn B đã cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
.......................................................
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
…………………………………….”.
Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, không những vi phạm vào chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về việc cất giữ, trao đổi chất ma tuý, mà còn là một trong các nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh, lây lan tệ nạn nghiện ma tuý, làm phát sinh ra các loại tội phạm khác. Bị cáo là người trưởng thành có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, mặc dù nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, song vì muốn thỏa mãn ý thích cá nhân bị cáo vẫn cố tình mua ma túy để sử dụng dẫn đến phạm tội. Do đó, cần buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Như vậy, mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo từ bỏ ma túy, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[2] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo có nhân thân tốt.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[3] Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần áp dụng hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo. Bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ:
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu ANGEL màu nâu, biển kiểm soát 35F8-4233, số máy 200779, số khung: 200779, xe đã qua sử dụng thu giữ của B có đăng ký xe mô tô mang tên Hồ Văn T, sinh năm 1962, trú tại thôn P, xã V, huyện N. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của anh Hoàng Văn T sinh năm 1987, trú tại thôn P, xã V, huyện N. Khoảng tháng 6/2022, anh T đã mua lại chiếc xe trên của anh T với giá 3.000.000 đồng nhưng chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ. Khoảng tháng 11/2022, anh T cho Nguyễn Văn B mượn để đi làm. Anh Hoàng Văn T không biết việc B sử dụng chiếc xe mô tô trên để đi mua ma túy vào ngày 24/12/2022. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N trả lại 01 chiếc xe mô tô như trên cho anh Hoàng Văn T là có căn cứ theo quy định của pháp luật.
- Cần tịch thu, tiêu hủy: Một phong bì niêm phong theo quy định của pháp luật là mẫu vật hoàn trả theo kết luận số 59/KL-KTHS-MT ngày 01/01/2023, bên trong là chất bột màu trắng còn lại trong mẫu vật gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1182 gam, là ma túy loại Heroine, cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong.
- Trả lại cho bị cáo số tiền 190.000 đồng.
[5] Về nguồn gốc số ma túy, Nguyễn Văn B khai mua của một người đàn ông không quen biết, không rõ tên, địa chỉ, tại khu vực thôn Đồng Dược, xã S, huyện N. Do đó, không có cơ sở để điều tra làm rõ.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn B 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24/12/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy: Một phong bì niêm phong theo quy định của pháp luật là mẫu vật hoàn trả theo kết luận số 59/KL-KTHS-MT ngày 01/01/2023, bên trong là chất bột màu trắng còn lại trong mẫu vật gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1182 gam, là ma túy loại Heroine, cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong.
- Trả lại cho Nguyễn Văn B số tiền 190.000 đồng.
Tình trạng vật chứng như biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện N lập ngày 21/3/2023, Ủy nhiệm chi số
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Buộc Nguyễn Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (13/4/2023).
Truờng hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - VKSND H. NQ; - CA H. NQ; - Chi cục THADS H. NQ; - Sở Tư pháp NB; - Bị cáo; - Lưu. | T/M Hội đồng xét xử sơ thẩm Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Vũ Quang Chung. |