- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Hphạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2023/HS-ST Ngày 05-06-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tuấn Tú.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lý Văn Tòng;
2. Bà Trần Thị Hường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bàn Thị Bích Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Minh Tú - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 01 và 05 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chiêm Hóa, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 25/2023/TLST-HS, ngày 15 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2023/QĐXXST-HS, ngày 18/5/2023, đối với bị cáo:
NGUYỄN THỊ H, tên gọi khác: Không; sinh ngày 20/12/1969, tại huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang;
Cư trú: Tổ dân phố V, thị trấn V.L, huyện C, tỉnh T; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; bố đẻ: Nguyễn Ngọc H (đã chết); mẹ đẻ Hoàng Thị H2 (đã chết); Chồng: Nguyễn Đức L (đã chết) và có 02 con.
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Bản án số 87/HSST ngày 18/11/1993 củ Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa xử phạt Nguyễn Thị H 02 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/9/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lèng Văn L, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện C, tỉnh T (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng giữa tháng 9 năm 2022 (không xác định được ngày cụ thể), Nguyễn Thị H , sinh năm 1969 sử dụng điện thoại di động của mình truy cập vào Website (H không nhớ địa chỉ trang Website đã truy cập) thấy có thông tin của một người không quen biết đăng bán chất ma túy loại cần sa nên H nảy ý định mua chất ma túy loại cần sa để bán kiếm lời. Sau đó, H đã liên hệ theo số điện thoại của người bán để lại trên Website và mua được một 100g ma túy loại cần sa với giá 10.000.000 đồng. H và người bán thống nhất gửi chất ma túy loại cần sa theo dịch vụ chuyển phát và thanh toán sau khi nhận hàng. Khoảng 01 đến 02 ngày sau, H đang ở nhà thấy có người giao hàng (Shipper) không quen biết đến giao hàng cho H số chất ma túy loại cần sa và H đã thành toán 10.000.000 đồng. Sau khi mua được chất ma túy loại cần sa, H chia ra thành 70 gói đều có đặc điểm bên ngoài là túi nilon màu trắng, có rãnh khóa, viền màu đỏ, bên trong là chất ma túy loại cần sa ở dạng vụn thực vật.
Trong các ngày 20, 22 tháng 9 năm 2022, H đã bán 02 lần chất ma túy loại cần sa cho Lèng Văn L, sinh năm 1995, trú tại thôn N, xã T, huyện C, cụ thể:
Lần 01: Ngày 20/9/2022, H đang ở quán nước của mình tại số nhà 15, tổ dân phố VT, thị trấn VL, huyện C thấy L đi đến hỏi mua chất ma túy loại cần sa. Sau khi trao đổi, H bán cho L 01 gói chất ma túy loại cần sa với giá 200.000 đồng. Số ma túy này, L đã sử dụng hết bằng cách đốt hút vào cơ thể.
Lần 02: Khoảng 14 giờ ngày 22/9/2022, tại nhà ở của mình H tiếp tục bán cho Lèng Văn L 01 gói chất ma túy loại cần sa với giá 200.000 đồng. Ngay sau khi H và L vừa giao dịch mua bán xong thì bị tổ công tác Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thị H về hành vi mua bán trái phép chất ma túy và thu giữ của Lèng Văn L 01 gói cần sa có đặc điểm nêu trên. Ngoài ra quá trình làm việc, H đã tự giác giao nộp cho tổ công tác 03 túi nilon, bên trong đều chứa chất ma túy loại cần sa và 01 tờ tiền polime, mệnh giá 200.000 đồng.
Ngày 22/9/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của H phát hiện, thu giữ tại ngăn kéo tủ nhựa trong phòng ngủ của H có 01 túi nilon màu trắng có rãnh khóa, viền màu đỏ, bên trong có chứa 13 túi nilon màu trắng có rãnh khóa, mép túi có viền màu đỏ bên trong các túi có chứa chất ma túy loại cần sa. Thu giữ trên nóc tủ nhựa trong phòng ngủ của H 01 túi nilon màu trắng có rãnh khóa, viền màu đỏ, bên trong có chứa 48 túi nilon màu trắng có rãnh khóa, mép túi có viền màu đỏ, bên trong các túi có chứa chất ma túy loại cần sa.
Ngoài 02 lần bán trái phép chất ma túy loại cần sa nêu trên cho Lèng Văn L, quá trình điều tra, H còn khai nhận ngày 18/9/2022, tại quán bán nước của mình, H còn bán 04 gói chất ma túy loại cần sa cho một người đàn ông không quen biết được 800.000 đồng.
Tại kết luận giám định số 6387/KL-KTHS ngày 28/9/2022 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận:
- Mẫu thực vật trong túi nilon (phong bì ký hiệu M1 – thu giữ của Lèng Văn L) gửi giám định là cần sa; khối lượng mẫu là 1,038 gam.
- Mẫu thực vật trong 03 túi nilon (phong bì ký hiệu M2) gửi giám định là cần sa. Tổng khối lượng mẫu là 3,246 gam.
- Mẫu thực vật trong 61 túi nilon (phong bì ký hiệu M3) gửi giám định là cần sa. Tổng khối lượng mẫu là 64,080 gam.
Cáo trạng số 27/CT-VKSCH, ngày 15 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như bản Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: Điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 35, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/9/2022. Phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
- Áp dụng: Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu, tiêu hủy số cần sa đã thu giữ của bị cáo; Đối với số tiền 200.000 đồng đã thu giữ được của bị cáo đang tạm gửi tại tài khoản tạm gửi của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền bị cáo H bán ma túy mà có là 200.000 đồng.
- Áp dụng các Điều 136, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, không có tình tiết gì mới; bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì; bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Chiêm Hóa; Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản vi phạm hành chính, biên bản khám xét, kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Trong các ngày 20, 22 tháng 9 năm 2022, tại quán bán nước của mình tại số nhà 15, tổ dân phố Vĩnh Tài, thị trấn Vĩnh Lộc, huyện Chiêm Hóa, Nguyễn Thị H đã bán trái phép 02 lần chất ma loại cần sa cho Lèng Văn L, sinh năm 1995, trú tại thôn Nà Nghè, xã Tân Thịnh, huyện Chiêm Hóa, ngoài ra Nguyễn Thị H còn tàng trữ trái phép 67,326 gam chất ma túy loại cần sa (ở dạng vụn thực vật) mục đích để bán.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo H đã phạm vào tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo về tội phạm nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa pH và là một trong những nguyên nhân gây ra các tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Do vậy cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tù nghiêm minh tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời góp phần vào công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, khối lượng chất ma tuý mà bị cáo mua bán cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, có căn cứ.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: HĐXX thấy rằng bị cáo phạm tội mua bán trái phép chất ma túy với mục đích kiếm lời nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về vật chứng, biện pháp tư pháp: Khối lượng cần sa thu giữ của bị cáo, Nhà nước cấm lưu hành sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền bị cáo H bán ma túy trái phép có được tổng số tiền là 400.000 đồng, bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết 200.000 đồng, chưa thu được nên cần truy thu sung quỹ Nhà nước. Số tiền 200.000 đồng đã thu giữ được của bị cáo đang tạm gửi tại tài khoản tạm gửi của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Các vấn đề khác:
Trong quá trình điều tra bị cáo H còn khai nhận ngày 18/9/2022 tại quán bán nước của mình H còn bán 04 gói ma túy loại cần sa cho một người đàn ông không quen biết được 800.000 đồng, quá trình điều tra không xác định được tên tuổi, địa chỉ. Ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu chứng cứ khác để chứng minh hành vi phạm tội của H nên không có căn cứ xử lý trong vụ án.
Bị cáo H khai sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đên để lên mạng và dùng liên hệ mua cần sa. Bị cáo khai trong quá trình sử dụng đã bị rơi mất và không biết rơi ở đâu, nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.
Đối với hành vi Tàng trữ trái phép 1,038 gam chất ma túy loại cần sa của Lèng Văn L mục đích để sử dụng nhưng khối lượng chất ma túy chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Luật, Cơ quan Công an huyện Chiêm hóa đã chuyển tài liệu đề nghị xử phạt hành chính.
Đối với người đã bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Thị H , Cơ quan điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ, nên không có căn cứ xử lý trong vụ án.
Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35, 38, 47 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106,135, 136, 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Hphạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H08 (Tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 22/9/2022.
- Phạt tiền bị cáo 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).
- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số cần sa thu giữ của Nguyễn Thị Hđựng trong 01 bì niêm phong được dán kín số 6387/C09 (TT2) được niêm phong bởi các chữ ký ghi họ tên cán bộ giám định Đinh Thị Thơ, Phạm Đức Hùng và các hình dấu đỏ của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an.
Tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa với Chi cục thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa, lập ngày 30/5/2023.
- Truy thu sung quỹ Nhà nước của bị cáo Nguyễn Thị Hsố tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), hiện đang tạm gửi tại tài khoản số 3591.0.1065091.00000 là tài khoản của Chi Cục thi hành án huyện Chiêm Hóa mở tại Kho bạc Nhà nước huyện Chiêm Hóa.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Hphải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện Chiêm Hóa; - Công an huyện Chiêm Hóa; - Trại Tạm giam; - Chi cục THADS huyện Chiêm Hóa; - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang; - UBND thị trấn nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo, người tham gia tố tụng; - Hồ sơ vụ án hình sự; - Lưu HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Lý Văn Tòng Trần Thị Hường | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Tuấn Tú THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Tuấn Tú |