vanban.org

Bản án 28/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh Long An Tuyên án 06/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc P 02 (hai) năm tù. Thời gian tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 13/5/2023. Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc Ph "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH LONG AN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2023/HS-ST
Ngày: 06-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Duy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đinh Ngọc Dình

2. Bà Nguyễn Thị Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Quê, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tòng - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2023 tại điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An và điểm cầu trụ sở Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 25/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2028 đối với bị cáo:

Nguyễn Quốc P, sinh năm 1995; Nơi sinh: tỉnh Tiền Giang. Nơi đăng ký HKTT: Ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Chỗ ở hiện nay: Nhà trọ T4, khu phố H, thị trấn T, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Quốc Đ và bà Nguyễn Thị Thanh M; Có vợ tên Lê Thị Ngọc T và có một người con sinh năm 2017; Tiền sự: Không.

Tiền án: Năm 2021, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xử phạt 01 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 24/12/2022; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 13/5/2023 đến ngày 22/5/2023 chuyển sang tạm giam đến nay,

Nhân thân: Ngày 27/6/2019, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang quyết định áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 tháng, chấp hành xong ngày 11/4/2021, bị cáo có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Lê Thị Quỳnh N, sinh năm 2000. Nơi đăng ký HKTT: Số F, H, phường B, thành phố T, tỉnh Long An, vắng mặt.

Chỗ ở hiện nay: Nhà trọ T4, khu phố H, thị trấn T, huyện C, tỉnh Long An.

Địa chỉ liên hệ: Số A, đường H, phường C, thành phố T, tỉnh Long An.

2. Ông Trương Thanh T1 (tên gọi khác: R), sinh năm 1996. Địa chỉ: Số B, ấp A, xã V, huyện C, tỉnh Long An, vắng mặt.

Người chứng kiến:

1. Bà Lê Thị Thanh S, sinh năm 1997. Địa chỉ: Số C, đường C, khu phố H, thị trấn T, huyện C, tỉnh Long An, vắng mặt.

2. Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1969. Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn T, huyện C, tỉnh Long An, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 13/5/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an huyện C phối hợp Công an thị trấn T kiểm tra Phòng trọ số 2 nhà trọ T4 thuộc khu phố H, thị trấn T, huyện C, tỉnh Long An do Lê Thị Quỳnh N thuê trọ tại thời điểm này có Nguyễn Quốc P, Lê Thị Quỳnh N và Trương Thanh T1. Qua kiểm tra phát hiện trong thùng đựng rác có hộp nhựa màu trắng bên trong có 02 gói nylon chứa tinh thể rắn, màu trắng, cùng kích thước 2,6 cm x 01 cm nghi là ma túy (ký hiệu M1) và bên trong hộp bánh màu vàng hiệu Slide có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, gồm chai nhựa có nắp màu vàng bên trong có chất lỏng trong suốt, trên nắp chai có gắn 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa màu trắng nghi là có chất ma túy (ký hiệu M2), Cơ quan điều tra tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong tang vật nghi là ma túy, gửi giám định và một số đồ vật có liên quan.

Tại Bản kết luận giám định số 468/KL- KTHS ngày 20/5/2023 của Phòng K thuộc Công an tỉnh L kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 02 gói nylon hàn kín được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 0,2478 gam, loại Methamphetamine.

Tại Bản kết luận giám định số 3653/KL-KTHS ngày 19/6/2023 của Phân Viện khoa học hình sự thuộc Bộ C1 tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể màu trắng dính trên phần bầu của ống thủy tinh gửi giám định là ma túy, khối lượng 0,08 gam Methamphetamine; chất lỏng đựng trong chai nhựa gửi giám định là ma túy, thể tích là 139 ml Methamphetamine, hàm lượng Methamphetamine là 0,37g/L, khối lượng loại Methamphetamine trong 139ml là 0,051 gam.

Đồ vật tài liệu thu, tạm giữ gồm: 02 túi ny lon bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng, có cùng kích thước 2,6 cm x 01 cm được hàn kín đựng trong một hộp nhựa màu trắng, loại hộp đựng tăm bông ráy tai; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy bên trong có chất lỏng trong suốt có nắp nhựa màu vàng, trên nắp có gắn 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa màu trắng nghi có chất ma túy; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm chai nhựa có gắn nắp màu đỏ, trên nắp chai có gắn một ống hút nhựa màu trắng; 01 túi ny lon đã cắt đôi, kích thước 2,6 cm x 01 cm; 01 hộp quẹt ga; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, sim số 0382631169; 01 điện thoại di động hiệu OPPO, màu đen; 01 xe mô tô biển số 62K1- 497.82; 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 62K1-497.82 tên Trương Thanh T1; 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7+, màu trắng, cùng sim số 0395769487; 01 điện thoại di động hiệu OPPO, màu đen, không sim; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu hồng sim số 0792050270 và sim số 0375959478; 01 hộ chiếu mang tên Lê Thị Quỳnh N.

Qua test nước tiểu xét nghiệm chất ma túy của Nguyễn Quốc P, Lê Thị Quỳnh N, Trương Thanh T1 có kết quả dương tính với chất ma túy. P khai nhận sử dụng ma túy ngày 12/5/2023 tại phòng trọ, N khai nhận sử dụng ma túy cùng với bạn vào tối ngày 11/5/2023 tại thị trấn T và T1 khai nhận sử dụng một mình tại nhà vào ngày 09/5/2023 nên Cơ quan điều tra ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu; Bị cáo không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về bản kết luận giám định, đồng thời không có khiếu nại gì đối với cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Tại bản cáo trạng số 29/CT-VKSCT ngày 10 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An đã truy tố bị cáo Nguyễn Quốc P về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a, c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Quốc P theo tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu.

Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc P từ 02 năm đến 03 năm tù. Thời gian tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 13/5/2022. Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Quốc P thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày 06/9/2023.

Nghề nghiệp của bị cáo là làm thuê (bị cáo làm thuê cho tiệm game bắn cá), không ổn định về mức thu nhập hàng tháng nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,1325 gam, loại Methamphetamine, vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong trong bì thư số 468 theo biên bản đóng gói niêm phong ngày 22/5/2023; 01 túi ny lon được cắt làm đôi có kích thước 2,6 cm x 01 cm; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm chai nhựa có gắn nắp màu đỏ, trên nắp chai có gắn một ống hút nhựa màu trắng; 01 hộp quẹt ga; Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen sim số 0382631169 của bị do không dùng vào việc phạm tội nên cần trả cho bị cáo. Các vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành quản lý.

Bị cáo nói lời sau cùng: Hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, của Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục xét xử vắng mặt đương sự: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người chứng kiến vắng mặt nhưng các đương sự đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về hành vi của bị cáo: Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, biên bản khám nghiệm hiện trường và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định:

Vào khoảng 14 giờ ngày 13/5/2023, sau khi đi làm thuê về bị cáo nhờ T2 (không biết cụ thể tên và địa chỉ) chở đến gặp Tý S1 ở chợ phường C, thành phố T, tỉnh Long An để mua 02 gói ma túy với giá là 400.000 đồng, sau khi mua đươc mua túy bị cáo cất giấu trong lòng bàn tay và được T2 chở về đến cầu V thì bị cáo được Trương Thanh T1 đón và chở về phòng trọ số B nhà T. Tại đây, P bỏ 02 túi ma túy mua được vào một hộp nhựa đựng tăm bông ráy tai để cất giấu. Đến khoảng 18 giờ 30 phút, Công an đến kiểm tra phòng trọ, P lấy hộp nhựa bên trong có 02 túi ma túy ném vào thùng đựng rác màu vàng thì bị phát hiện, tiếp tục kiểm tra bên trong phòng còn phát hiện, thu giữ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm chai nhựa có nắp màu vàng bên trong chai có chất lỏng, trên nắp có gắn 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa màu trắng được cất giấu bên trong một hộp bánh màu vàng hiệu Slide của P sử dụng ngày 12/5/2023 còn lại, cùng các đồ vật có liên quan.

Bị cáo Nguyễn Quốc P là người thành niên có đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi, bị cáo là người có tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/12/2022, chưa được xóa án tích. Đến ngày 13/5/2023 bị cáo mua và cất giấu 02 gói ma túy có tổng khối lượng 0,2478 gam loại Methamphetamine. Kết quả giám định ma túy dính trên phần bầu ống thủy tinh của bộ D sử dụng ma túy có khối lượng 0,08 gam loại Methamphetamine, chất lỏng đựng trong chai nhựa là ma túy, thể tích là 139ml loại Methamphetamine, hàm lượng Methamphetamine là 0,37g/L, khối lượng Methamphetamine trong 139ml là 0,051 gam do P sử dụng ngày 12/5/2023 còn lại để trong phòng trọ. Tổng cộng khối lượng chất ma túy thu giữ của Nguyễn Quốc P là 0,3788 gam, loại Methamphetamine. Hành vi cất giấu ma túy của bị cáo để sử dụng là vi phạm pháp luật nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mình gây ra. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo P với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

…

c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”

Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, mà còn gây tác hại lớn về nhiều mặt xã hội, ảnh hưởng cho sức khỏe con người, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nên cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng cân nhắc, xem xét đến tính chất cũng như mức độ thực hiện hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị cáo có ông ngoại tên Hồ Văn Đ1 là liệt sĩ, bà ngoại tên Nguyễn Thị Bé H là người có công với cách mạng được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến, bà cố Nguyễn Thị G là bà M1 Việt Nam anh hùng, bà cố Nguyễn Thị M2 là người có công với cách mạng được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến, ông cố Nguyễn Văn Q là liệt sĩ, bà cố Nguyễn Thị A là bà M1 Việt Nam anh hùng, ông cố Hồ Văn T3 là liệt sĩ, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Xét thấy, cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cải tạo bản thân trở thành công dân tốt.

Về hình phạt bổ sung: Các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy điều kiện kinh tế của bị cáo còn khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với hành vi của người tên Tý S1 là người bán ma túy cho bị cáo và người tên T2 chở bị cáo từ thành phố T về cầu V do không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể nên chưa có căn cứ xem xét, xử lý, kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ.

Đối với hành vi sử dụng ma túy của Nguyễn Quốc P tại phòng trọ ngày 12/5/2023, của Trương Thanh T1 tại nhà ngày 09/5/2023 và Lê Thị Quỳnh N tại thị trấn T ngày 11/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đối với vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có; khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với điện thoại di động hiệu Nokia màu đen cùng sim điện thoại số 0382631169 của bị cáo do P không dùng vào việc phạm tội nên cần trả cho bị cáo.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã xử lý vật chứng trả lại cho Lê Thị Quỳnh N 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7+ cùng sim số 0395769487, 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen không sim, 01 điện thoại Nokia màu hồng cùng 02 sim số 0792050270 số 0375959478, 01 hộ chiếu mang tên Lê Thị Quỳnh N; Trả cho Trương Thanh T1 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, 01 xe mô tô biển số 62K1-497.82, giấy đăng ký xe mô tô biển số 62K1-497.82 tên Trương Thanh T1 là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc P về tội danh và mức án trên là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 47, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc P 02 (hai) năm tù. Thời gian tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 13/5/2023.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Quốc P thời hạn 45 ngày, kể từ ngày 06/9/2023 để đảm bảo cho việc thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: Chất ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,1325 gam, loại Methamphetamine, vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong trong bì thư số 468 theo biên bản đóng gói niêm phong ngày 22/5/2023; 01 túi ny lon được cắt làm đôi có kích thước 2,6 cm x 01 cm; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm chai nhựa có gắn nắp màu đỏ, trên nắp chai có gắn một ống hút nhựa màu trắng; 01 hộp quẹt ga.

Trả cho bị cáo Nguyễn Quốc P: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen cùng sim điện thoại số 0382631169.

Các vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành theo quyết định chuyển vật chứng số 22/QĐ-VKSCT ngày 10/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An và biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/8/2023 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Quốc P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo bản án 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ