- Tranh chấp gì? án hình sự — "Gì A N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Tuyên tịch thu tiêu hủy một phong bì tái niêm phong; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật hình sự tuyên bố
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LÀO CAI Bản án số: 28/2023/HS-ST Ngày 28 - 6 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Sần Thó Suy
- Bà Ly Giờ Gụ
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trung Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2023, tại Nhà văn hóa đa năng xã Trịnh Tường, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 21/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Gì A N (tên gọi khác: Không), sinh ngày 12 tháng 7 năm 1978, tại huyện B, tỉnh Lào Cai. Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 01/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Con ông: Gì A C (đã chết) và bà Sùng Thị D (đã chết); Bị cáo có vợ là Giàng Thị M, sinh năm 1978, hiện cư trú tại Thôn T, xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai; Bị cáo có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2019.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không
Về nhân thân: Bị cáo là người thường xuyên sử dụng chất ma túy.
`
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 06/4/2023, tạm giam ngày 12/4/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Phạm Thị Thương - Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai. Có mặt.
- Người chứng kiến: Anh Lê Văn B, anh Tráng A H
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 15 phút ngày 05/4/2023, tại khu vực cầu S, thôn N, xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai, tổ công tác Công an xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai phát hiện hai người đàn ông điều khiển xe mô tô không có biển kiểm soát có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy, nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra, quá trình kiểm tra người đàn ông điều khiển xe mô tô khai nhận là Tráng A H, sinh năm 2001 và người đàn ông ngồi sau khai nhận là Gì A N, sinh năm 1978 (cả hai đều trú tại thôn T, xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai). Tổ công tác đã mời người chứng kiến và tiến hành kiểm tra. Khi bị kiểm tra, Gì A N tự giác lấy từ trong túi áo khoác bên trái đang mặc trên người giao nộp cho tổ công tác 01 gói nilon màu hồng, mở kiểm tra bên trong chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục. Gì A N khai nhận đó là ma túy Heroine cất dấu với mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang đối với Gì A N và niêm phong vật chứng.
Quá trình điều tra Gì A N khai nhận khoảng 17 giờ ngày 05/4/2023 Gì A N đến khu vực chợ B, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai và mua của một người nam giới dân tộc Mông (không rõ tên, địa chỉ cụ thể) 01 gói Heroine với giá tiền 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy Gì A N cất dấu vào túi áo khoác đang mặc trên người và đi bộ ra khu vực cây xăng xã B thì gặp Tráng A H là người quen ở cùng thôn và đi nhờ xe của Tráng A H về nhà. Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 05/4/2023, khi cả hai đi đến khu vực cầu S, thôn N, xã C, huyện B thì bị tổ công tác Công an xã Cốc Mỳ kiểm tra và bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật.
Tại bản kết luận giám định số 118 ngày 10/4/2023, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 4,06 gam chất bột khô, màu trắng, vón cục gửi giám định là loại chất ma túy Heroine.
Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 25/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Gì A N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Gì A N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Trong đó:
Về hình phạt chính: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Gì A N từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có việc làm ổn định, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tuyên tịch thu tiêu hủy một phong bì tái niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, bên trong có 3,81 gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định. Trên một mặt của phong bì có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Gì A N, ngày 05/4/2023 tại thôn N, xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai”.
Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Gì A N trình bày luận cứ bào chữa và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Gì A N từ 03 (ba) năm 09 (chín) tháng đến 04 (bốn) năm tù, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về án phí: Bị cáo là hộ nghèo, đề nghị miễn tiền án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
Xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp, đúng với quy định của pháp luật.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Gì A N khai nhận bản thân là người nghiện chất ma túy nên ngày 05/4/2023 đã đi mua ma túy của một người đàn ông không quen biết ở khu vực chợ B, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai với mục đích sử dụng cho bản thân, sau khi mua được ma túy bị cáo cất dấu vào túi áo khoác đang mặc trên người rồi ra đi nhờ xe của người cùng thôn về nhà, trên đường về thì bị phát hiện bắt quả tang. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác đã có trong hồ sơ. Như vậy có đủ cơ sở để khẳng định bản cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 25/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Gì A N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và hiểu biết pháp luật. Bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy nên bị cáo hiểu rất rõ tệ nạn ma tuý đã và đang trở thành hiểm họa lớn của toàn nhân loại, cũng như mọi quốc gia, ma tuý làm gia tăng các loại tội phạm, bạo lực, vắt cạn kiệt nhân lực, tài chính, hủy diệt sức khỏe của con người và là tác nhân của căn bệnh thế kỷ HIV- AIDS Bị cáo cũng hiểu rõ Nhà nước ta nghiêm cấm mọi hành vi “Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy”. Mọi hành vi, vi phạm đều phải được xử lý thật nghiêm minh trước pháp luật. Hiểu rất rõ điều đó song do không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân, nên bị cáo đã nghiện chất ma túy, để có ma túy sử dụng cho bản thân bị cáo đã tàng trữ 4,06 gam Heroine. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Vì vậy đối với bị cáo cần phải có một mức hình phạt nghiêm khắc để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người công dân sống có ích cho xã hội và để phòng ngừa chung.
. Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu, là người thường xuyên sử dụng chất ma túy.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi bị bắt và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên cũng cần áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về các vấn đề liên quan trong vụ án:
Liên quan trong vụ án này còn có người nam giới dân tộc mông, theo bị cáo khai là người đã bán ma túy cho bị cáo ở khu vực chợ B, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai. Quá trình điều tra, do không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể của người này, nên Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không đề cập xử lý.
Đối với anh Tráng A H là người điều khiển xe mô tô chở bị cáo từ khu vực cây xăng xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai đến khu vực cầu S, thôn N, xã C, huyện Bát Xát. Tuy nhiên anh H chỉ là người cho bị cáo đi nhờ xe, anh không biết bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy và anh cũng không liên quan đến hành vi của bị cáo. Do đó, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không đề cập xử lý trách nhiệm đối với anh Tráng A H.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện chất ma túy, không có việc làm ổn định, do đó không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về vật chứng của vụ án:
Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 4,06 gam Heroine đã trích mẫu 0,25 gam Heroine để giám định không hoàn lại, còn lại 3,81 gam Heroine sau trích mẫu được tái niêm phong hoàn lại cơ quan trưng cầu, xét thấy đây là vật cấm lưu hành nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo thuộc đối tượng hộ nghèo, đã có đơn xin miễn nộp tiền án phí Hình sự sơ thẩm. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội miễn tiền án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
. Về đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo:
Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên về điều luật áp dụng đối với bị cáo là đúng, mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và việc tranh tụng tại phiên tòa để quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Xét đề nghị của người bào chữa cho bị cáo về mức hình phạt đối với bị cáo, không phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên không được chấp nhận. Đối về đề nghị miễn tiền án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo, xét thấy là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Tại phiên tòa bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định của pháp luật để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Gì A N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Gì A N 04 (Bốn) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/4/2023.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Tuyên tịch thu tiêu hủy một phong bì tái niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, bên trong có 3,81 gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định. Trên một mặt của phong bì có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Gì A N, ngày 05/4/2023 tại thôn N, xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai”.
Toàn bộ vật chứng trên đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/5/2023.
Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu phí, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Gì A N.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND tỉnh Lào Cai; - VKSND huyện Bát Xát; - CQCSĐT CA huyện Bát Xát; - Nhà tạm giữ CA huyện Bát Xát; - Cơ quan THA HS CA tỉnh LC; - Sở tư pháp LC; - Bị cáo; Người bào chữa cho BC; - Thi hành án hình sự (02); - Chi cục THA DS huyện Bát Xát; - Lưu HS; TA; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Phạm Thị Thu Hằng |