vanban.org

Bản án 28/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận sự thuận tình ly hôn của chị Cao Thị T và anh Đỗ Văn C.

Về con chung: Xử giao con chung Đỗ Cao Tường V - sinh ngày 30 tháng 6 năm 2015 cho chị Cao Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung do các đương sự tạm thời không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết. Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật đến khi c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận sự thuận tình ly hôn của chị Cao Thị T và anh Đỗ Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN A
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2023/HNGĐ-ST
Ngày 21-02-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Duy Thạch

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Văn Cường

Bà Bùi Thị Nhàn

- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Trí Thắng - Thư ký Toà án nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Thanh Nhàn - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 212/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2022 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Cao Thị T; ĐKTT: Thôn T, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Số X đường Y, phường Đ, Quận N, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Đỗ Văn C; ĐKTT: Thôn T, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Thôn A, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có lời khai đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, tại các bản tự khai, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Cao Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị T và anh Đỗ Văn C chung sống với nhau do tự nguyện và có được gia đình hai bên tổ chức đám cưới theo phong tục truyền thống từ tháng 01 năm 2015 nhưng đến ngày 08 tháng 8 năm 2015 mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống cùng nhau tại gia đình bố, mẹ đẻ anh Đỗ Văn C ở thôn A, xã A. Quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn từ năm 2017 do anh Đỗ Văn C có quan hệ ngoại tình với người khác dẫn đến bất đồng về quan điểm sống, tính cách không hợp nên thường xuyên xảy ra cãi, chửi nhau. Mâu thuẫn đã được gia đình khuyên ngăn, hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả mà ngày càng căng thẳng, trầm trọng, không còn khả năng khắc phục. Do mâu thuẫn căng thẳng nên từ giữa năm 2017, chị Cao Thị T đã bỏ đi nơi khác sống ly thân với anh Đỗ Văn C; hiện tại vợ chồng không ai quan tâm và trách nhiệm đến nhau. Nay chị Cao Thị T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đỗ Văn C.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung Đỗ Cao Tường V - sinh ngày 30 tháng 6 năm 2015; con chung hiện do anh C trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn chị Cao Thị T đề nghị Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng; việc cấp dưỡng nuôi con do chị Cao Thị T và anh Đỗ Văn C tự thỏa thuận, tạm thời không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản: Chị Cao Thị T không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Tại các bản tự khai, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn, anh Đỗ Văn C trình bày:

Về thời gian kết hôn, điều kiện kết hôn và nơi chung sống của vợ chồng như chị Cao Thị T đã trình bày là đúng. Quá trình chung sống, hai bên đã phát sinh mâu thuẫn do chị Cao Thị T có quan hệ ngoại tình với người khác dẫn đến bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp, xảy ra cãi chửi nhau; vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ năm 2018 đến nay, không ai còn quan tâm, trách nhiệm đến nhau. Nay chị Cao Thị T khởi kiện xin ly hôn, anh Đỗ Văn C có quan điểm nhất trí với yêu cầu khởi kiện của chị Cao Thị T, đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung như chị Cao Thị T đã trình bày, con chung hiện do anh Đỗ Văn C đang trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn anh Đỗ Văn C đề nghị Tòa án giao con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng; việc cấp dưỡng nuôi con do anh Đỗ Văn C và chị Cao Thị T tự thỏa thuận, tạm thời không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản: Anh Đỗ Văn C không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A phát biểu ý kiến khẳng định:

- Về việc tuân theo pháp luật về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, những người tiến hành tố tụng và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Dân sự, các điều 51, 55, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình, xử công nhận thuận tình ly hôn của chị Cao Thị T và anh Đỗ Văn C; về con chung, xử giao con chung Đỗ Cao Tường V - sinh ngày 30 tháng 6 năm 2015 cho chị Cao Thị T trực tiếp nuôi dưỡng; thời hạn nuôi con chung tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật; về việc cấp dưỡng nuôi con và về tài sản chung: Do đương sự tạm thời không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Về án phí: Chị Cao Thị T và anh Đỗ Văn C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền xét xử vụ án và việc vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa: Bị đơn, anh Đỗ Văn C có nơi cư trú tại thôn A, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân huyện A. Anh Đỗ Văn C có đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Đỗ Văn C tại phiên tòa.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của các đương sự, các tài liệu, chứng cứ khác do nguyên đơn cung cấp và do Tòa án thu thập có trong hồ sơ vụ án đã xác định chị Cao Thị T và anh Đỗ Văn C kết hôn với nhau do tự nguyện, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 08 tháng 8 năm 2015. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp; hiện tại đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị Cao Thị T và anh Đỗ Văn C đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình cần xử công nhận sự thuận tình ly hôn của chị Cao Thị T và anh Đỗ Văn C.

[3] Về con chung: Chị Cao Thị T và anh Đỗ Văn C có 01 con chung Đỗ Cao Tường V - sinh ngày 30 tháng 6 năm 2015. Ly hôn chị Cao Thị T và anh Đỗ Văn C đều có đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Việc nuôi con chung vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của cha, mẹ nên giao con chung cho ai nuôi dưỡng cũng phải đảm bảo con chung được nuôi dạy và phát triển trong điều kiện tốt nhất. Xét thấy điều kiện nuôi con của các bên là ngang nhau nhưng con chung Đỗ Cao Tường V là nữ giới, đang ở độ tuổi phát triển tâm sinh lý, cần có sự chăm sóc hàng ngày của người mẹ nên cần giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, phù hợp với nguyện vọng của con chung.

[4] Ly hôn chị Cao Thị T, anh Đỗ Văn C có quan điểm việc cấp dưỡng nuôi con sẽ do các đương sự tự thỏa thuận, tạm thời không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét quan điểm chị Cao Thị T, anh Đỗ Văn C đưa ra là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận, Tòa án không xem xét, giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung. Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

[5] Về tài sản: Do các đương sự không có yêu cầu nên Toà án không xem xét, giải quyết. Nếu các bên đương sự có tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con chung hoặc về tài sản, Tòa án sẽ xem xét giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi đương sự có yêu cầu.

Về án phí: Chị Cao Thị T, anh Đỗ Văn C phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; các điều 143, 147, 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ các điều 51, 55, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ các điều 6, 7, 9 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016,

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận sự thuận tình ly hôn của chị Cao Thị T và anh Đỗ Văn C.

2. Về con chung: Xử giao con chung Đỗ Cao Tường V - sinh ngày 30 tháng 6 năm 2015 cho chị Cao Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung do các đương sự tạm thời không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản: Tòa án không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Chị Cao Thị T phải nộp 75.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước. Chị Cao Thị T đã nộp số tiền 300.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện A (theo Biên lai thu tiền số 0004317 ngày 14 tháng 11 năm 2022) nên trả lại cho chị Cao Thị T 225.000 đồng.

Anh Đỗ Văn C phải nộp 75.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước.

Nguyên đơn có mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ