- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn và nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa chị Lý diễm P với anh Trần Ô T là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOØA AÙN NHAÂN DAÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 28/2023/HNGĐ-ST Ngày: 25/5/2023 Về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG, KIÊN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Lợi
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hoàng Khởi
2. Ông Lê Hoàng Vũ
Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Út Sang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh Thượng: Ông Trần Ngọc Nhiều – Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 175/2022/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2023/QĐXX-ST ngày 17 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lý diễm P, sinh năm 1980 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp MK, xã MT, huyện UMT, Kiên Giang.
2. Bị đơn: Anh Trần Ô T, sinh năm 1978 vắng mặt Địa chỉ: Ấp MK, xã MT, huyện UMT, Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 18/8/2022 và các lời khai tại Tòa án nguyên đơn chị Lý diễm P trình bày:
Tôi và anh Trần Ô T tự tìm hiểu yêu thương nhau, được gia đình hai bên đồng ý, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương vào năm 2000, nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống đến khoảng đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không hợp nhau thường hay cự cải nhau. Đến tháng 02/2022 Chúng tôi sống ly thân cho đến nay.
Nay tôi thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh P, yêu cầu được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung: 1/ Trần Chí H, sinh ngày 12/7/2002; 2/ Trần Chí T, sinh ngày 27/4/2014 Cháu H đã khôn lớn, Cháu T hiện đang sống với tôi. Tôi yêu cầu được quyền nuôi cháu T, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ: Vợ chồng không nợ ai.
Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay anh Trần Ô T không đến Tòa án và không có ý kiến trình bày:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Tranh chấp giữa nguyên đơn chị Lý diễm P khởi kiện yêu cầu xin ly hôn và nuôi con chung với bị đơn anh Trần Ô T. Đây là tranh chấp việc ly hôn và nuôi con chung được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 vụ kiện này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về tống tụng: Anh Trần Ô T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Trần Ô T là đúng theo quy định tại Điều 227; 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
. Về hôn nhân: Chị Lý diễm P và anh Trần Ô T được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán của địa phương và chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2002, không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên về mặt pháp lý chị P và anh T không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Căn cứ khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lý diễm P và anh Trần Ô T theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình
. Về con chung: Vợ chồng chị P và anh T có với nhau 02 người con chung 1/ Trần Chí H, sinh ngày 12/7/2002; 2/ Trần Chí T, sinh ngày 27/4/2014 Cháu H đã khôn lớn, Cháu T hiện đang sống với chị P. Chị P yêu cầu được quyền nuôi cháu T, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy: Từ khi ly thân cho đến nay cháu T sống với chị P, tình cảm của cháu gắn liền với chị P nhiều hơn với anh T, nghĩ nên tiếp tục giao cháu T cho chị P nuôi dưỡng là đúng với nguyện vọng của cháu T, phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
. Về tài sản chung: Chị P yêu cầu để vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại phiên tòa Viện kiểm sát đề nghị: Về tố tụng: Thẩm phán – Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại Điều 71 BLTTDS, Bị đơn từ khi thụ lý đến nay không đến Tòa án, không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 72 BLTTDS. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, Không công nhận chị P và anh T là vợ chồng. Tiếp tục giao cháu Trần Chí T cho chị P nuôi dưỡng, anh T không cấp dưỡng nuôi con, do chị P không yêu cầu. Về tài sản, nợ: Chị P không yêu cầu giải quyết. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát.
. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm xin ly hôn: Căn cứ vào Nghị Quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án thì chị P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ án phí tạm nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003413 ngày 28/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh Thượng. Chị P được nhận lại số tiền 3.437.000 đồng án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; khoản 4 Điều 147, Điều 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa chị Lý diễm P với anh Trần Ô T là vợ chồng.
2. Về con chung: Vợ chồng chị P và anh T có với nhau 02 người con chung 1/ Trần Chí H, sinh ngày 12/7/2002 ( giới tính nam) đã khôn lớn;
Giao cháu Trần Chí T, sinh ngày 27/4/2014 ( giới tính nữ) cho chị Lý diễm P tiếp tục nuôi dưỡng. Anh T không cấp dưỡng nuôi con do chị P không yêu cầu.
Anh Trần Ô T có quyền lui tới, thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền cản trở.
3. Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lý diễm P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Chị P được khấu trừ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0003413 ngày 28/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh Thượng. Chị P được nhận lại số tiền 3.437.000 đồng tiền án phí.
Báo cho đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Anh T vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận ( niêm yết) bản án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang; - Viện kiểm sát ND H. U Minh Thượng; - Chi cục Thi hành án DS H. U Minh Thượng; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tấn Lợi |