- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị H khởi kiện ly hôn ông Nguyễn Thanh T"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 28/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28 - 4 - 2023 “V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phí Thị Phương Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Huy Cường; bà Nguyễn Thị Mai.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Neàng Sa Men - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 314/2022/TLST-HN&GĐ ngày 21 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2023/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2023, giữa:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1985, nơi cư trú: khóm XP, phường TB, thị xã TB, tỉnh AG; vắng mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1988, nơi cư trú: khóm XP, phường TB, thị xã TB, tỉnh AG; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Bà H với ông Nguyễn Thanh T chung sống với nhau như vợ chồng, có tổ chức đám cưới vào năm 2006 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Tịnh Biên, huyện Tịnh Biên (nay là phường Tịnh Biên, thị xã Tịnh Biên) vào ngày 11/8/2011. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, không thể cùng nhau chung sống hạnh phúc nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Thanh T.
Về con chung, vợ chồng có 03 con chung tên Nguyễn Thị Mỹ H1, sinh ngày 13/12/2007, Nguyễn Thị Mỹ H2, sinh ngày 02/6/2009 và Nguyễn Hoàng Thanh P sinh ngày 03/5/2013. Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi các con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
Tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H vắng mặt, có đơn giữ nguyên các ý kiến trình bày ở giai đoạn trước khi xét xử và xin vắng mặt tại phiên tòa.
Bị đơn ông Nguyễn Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để làm việc, tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tham gia phiên hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên phát biểu:
Về tố tụng, Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng, cơ bản thực hiện đầy đủ quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Người tham gia tố tụng, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về giải quyết vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H; giao các con chung cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận tại phiên tòa, nhận thấy:
* Về tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thanh T; ông T cư trú trên địa bàn thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Trước khi phiên tòa được mở, bà H có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt và vắng mặt tại phiên tòa; ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H, ông T.
* Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân, bà H và ông T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn (nay là phường) Tịnh Biên, huyện (nay là thị xã) Tịnh Biên nên là hôn nhân hợp pháp.
Bà H trình bày, sau khi kết hôn, bà và ông T chung sống hạnh phúc, đến năm 2013 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do ông T nghiện cờ bạc, không quan tâm chăm sóc vợ, con; mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn để tiếp tục chung sống với nhau, tình cảm vợ chồng giữa bà với ông T đã không còn.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi các văn bản tố tụng và triệu tập ông T đến làm việc nhưng ông T không tham dự cũng như không có ý kiến phản hồi; bên cạnh đó, bà Nguyễn Thị L là người thân sống chung nhà với ông T có lời khai về việc đã thông báo nhiều lần cho ông T về việc bà H khởi kiện ly hôn, yêu cầu nuôi con chung nhưng ông T vẫn không có ý kiến, bà H và ông T đã không còn sống chung với nhau từ năm 2021 cho đến nay. Điều này cho thấy, ông T không quan tâm đến tâm tư nguyện vọng của bà H và không có thiện chí khắc phục mâu thuẫn để đoàn tụ gia đình.
Xét thấy, tình nghĩa vợ chồng phải xuất phát từ hai phía, cả hai cùng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Thực tế, bà H xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông T và giữ nguyên ý kiến trình bày, yêu cầu khởi kiện của mình, cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H với ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét, yêu cầu được chấm dứt quan hệ hôn nhân của bà H với ông T là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về con chung, cấp dưỡng: Bà H với ông T có 03 con chung là Nguyễn Thị Mỹ H1, sinh ngày 13/12/2007, Nguyễn Thị Mỹ H2, sinh ngày 02/6/2009 và Nguyễn Hoàng Thanh P, sinh ngày 03/5/2013. Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng. Xét yêu cầu được trực tiếp nuôi con của bà H thấy rằng, các con chung đều có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với bà H, ông T không có ý kiến yêu cầu gì về việc nuôi con chung. Xét việc bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện và sự tự nguyện này không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H về việc bà H được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng các con chung, ông T không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung, bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí sơ thẩm, bà H khởi kiện yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo luật định. Ông T không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H;
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn ông Nguyễn Thanh T.
Giấy chứng nhận kết hôn số 88/2011 ngày 11/8/2011 của Ủy ban nhân dân thị trấn (nay là phường) Tịnh Biên, huyện (nay là thị xã) Tịnh Biên, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.
Về con chung, cấp dưỡng: Bà Nguyễn Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung là Nguyễn Thị Mỹ H1, sinh ngày 13/12/2007, Nguyễn Thị Mỹ H2, sinh ngày 02/6/2009 và Nguyễn Hoàng Thanh P, sinh ngày 03/5/2013; ông Nguyễn Thanh T không cấp dưỡng nuôi con.
Bà Nguyễn Thị H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Nguyễn Thanh T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
2. Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp theo biên lai số TU/2022/0008830 ngày 21 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện (nay là thị xã) Tịnh Biên. Bà H đã nộp đủ án phí.
Ông Nguyễn Thanh T không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang (1); - VKSND thị xã Tịnh Biên (2); - Chi cục THADS thị xã Tịnh Biên (1); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ (1); - Lưu Văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Phí Thị Phương Nhung |