vanban.org

Bản án 28/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Th được ly hôn anh Đồng Văn Đ.

Về con chung: Giao con chung Đồng Thị Bích Th, sinh ngày 24/4/2007 cho chị Bùi Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 02/2023 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Đồng Văn Đ. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị Th - Đồng Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Th được ly hôn anh Đồng Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲ HỢP
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2023/HNGĐ-ST
Ngày 28/02/2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con,
chia tài sản khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP – TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Hà Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Minh Tường

Ông Vy Hoàng Hà

Thư ký phiên toà: Bà Kim Thị Mai – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Hào – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 178/2022/TLST – HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2023/QĐXXST – HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Th, sinh năm 1985 Nơi cư trú: Xóm T, xã Q, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

(Có mặt)

Bị đơn: Anh Đồng Văn Đ, sinh năm 1980 Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn và tại biên bản ghi lời khai nguyên đơn chị Bùi Thị Th trình bày: Chị và anh Đồng Văn Đ kết hôn vào ngày 21/3/2006, đăng ký hết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Tam Hợp, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, anh chị sống chung không hạnh phúc mà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Đ sống không có trách nhiệm với gia đình, không chịu khó làm ăn mà hay ghen tuông vô cớ rồi xúc phạm, đánh đập chị. Không thể sống cùng anh Đ nên từ đầu năm 2010 chị đã đưa con về bên ngoại sống ly thân anh Đ từ đó cho đến nay. Chị và anh Đ sống ly thân nhau hơn 13 năm nay, hai bên còn liên lạc, thăm hỏi gì nhau và nay cả hai không còn tình cảm với nhau, ai cũng đã có cuộc sống riêng ổn định, do đó chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị và anh Đ được ly hôn.

Chị Th và anh Đ có 01 người con chung là Đồng Thị Bích Th, sinh ngày 24/4/2007. Từ trước đến nay con chung sống cùng chị Th, do chị Th trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó chị Th yêu cầu được giao nuôi con khi vợ chồng ly hôn, chị Th không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Th và anh Đ không có tài sản chung, do đó chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

Đối với bị đơn anh Đồng Văn Đ, quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ kiện, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng anh Đ không có mặt để lấy lời khai, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải. Tại phiên toà anh Đ vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Đại diện Viên kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp phát biểu ý kiến: Qua kiểm sát giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa thấy rằng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 điều 147, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, xử: Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Th được ly hôn anh Đ; Về con chung: Giao con chung cho Đồng Thị Bích Th, sinh ngày 24/4/2007 chị Th trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Đ. Về tài sản: Chị Th không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét; Về án phí: Chị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Quan hệ pháp luật được xác định trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Đồng Văn Đông có hộ khẩu thường trú tại xóm Tân Thành, xã Tam Hợp, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Hôn nhân của chị Th và anh Đ là hôn nhân hợp pháp, đảm bảo về điều kiện kết hôn và được đăng ký theo quy định. Sau khi kết hôn, chị Th, anh Đ sống chung không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và từ đầu năm 2010 đến nay chị Th, anh Đ đã sống ly thân. Quá trình giải quyết vụ án chị Th một mực xin ly hôn anh Đ, tại phiên toà chị Th vẫn cương quyết giữ nguyên yêu cầu đó. Xét thấy hôn nhân của chị Th, anh Đ lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó chấp nhận yêu cầu của chị Th, cho chị Th được ly hôn anh Đ.

Về con chung: Con chung của chị Th, anh Đ là cháu Bích Th, từ trước đến nay cháu Th sống cùng chị Th, do chị Th trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Chị Th có việc làm, thu nhập ổn định, có các điều kiện đảm bảo cho việc học tập, giáo dục con phát triển lành mạnh, cháu Bích Th cũng có nguyện vọng được sống với mẹ. Do đó căn cứ quyền lợi mọi mặt của con chung, chấp nhận yêu cầu của chị Th, giao cháu Th cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Đông.

Về tài sản: Chị Tha không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với anh Đồng Văn Đ, quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, anh Đ không có mặt để lấy lời khai, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải, thuộc trường hợp vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng anh Đông vắng mặt không có lý do, do đó căn cứ vào khoản 3 điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt anh Đ.

Về án phí: Chị Bùi Thị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Th được ly hôn anh Đồng Văn Đ.

Về con chung: Giao con chung Đồng Thị Bích Th, sinh ngày 24/4/2007 cho chị Bùi Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 02/2023 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Đồng Văn Đ.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Về án phí: Chị Bùi Thị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ trong số tiền tạm ứng án phí 300.000,đ chị Bùi Thị Th đã nộp theo biên lai thu số 0007001 ngày 17/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳ Hợp.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ