vanban.org

Bản án 28/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội.

Xử ly hôn giữa chị Nghiêm Thanh Nh và anh Nguyễn Thanh B. Về con chung: Giao chị Nghiêm Thanh Nhàn trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 25/10/2011 và giao anh Nguyễn Thanh B trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Phương Th, sinh ngày 06/7/2006 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi, trưởng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUY TIÊN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số: 28/2023/HNGĐ-ST
Ngày 15/8/2023
“V/v ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Ngọc Thuận

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Minh Tuấn; ông Vũ Quốc Phòng

- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thị Loan – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Hoa - Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 32/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2023/QĐXX-ST ngày 13 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nghiêm Thanh Nh, sinh năm 1981; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường Ch, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

* Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh B, sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường Ch, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nghiêm Thanh Nh trình bầy: Chị và anh B kết hôn với nhau vào ngày 24/7/2002 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ch, huyện D (nay là phường Ch, thị xã D), tỉnh Hà Nam.

Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hoà thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong sinh hoạt hàng ngày dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được. Vợ chồng chị sống ly thân từ khoảng năm 2019 đến nay không quan tâm đến nhau. Nay nhận thấy không thể tiếp tục chung sống cùng với anh B được nữa vì vậy đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng chị được ly hôn.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Thanh B trình bày: Về điều kiện thủ tục kết hôn chị Nh trình bày là đúng. Anh thừa nhận vợ chồng chung sống một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai vợ chồng bất đồng quan điểm, lối sống, vợ chồng ly thân từ năm 2019, không quan tâm đến nhau; nay chị Nh xin ly hôn anh không đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng cùng trình bày có 03 con chung là Nguyễn Thanh T, sinh ngày 17/01/2003, Nguyễn Phương Th, sinh ngày 06/7/2006 và Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 25/10/2011. Đối với con chung Nguyễn Thanh T đã trên 18 tuổi, trưởng thành tự lập được nên cả chị Nh và anh B đều không yêu cầu Toà án giải quyết. Khi ly hôn chị Nh xin được nuôi cả hai con chung Nguyễn Phương Th và Nguyễn Ngọc Á và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung, chị trình bày hiện đang làm giáo viên mầm non thu nhập bình quân khoảng 10 triệu đồng/tháng; anh B xin nuôi con chung Nguyễn Phương Th, để chị Nh nuôi cháu Nguyễn Ngọc Á và không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung, anh trình bày hiện đang làm lao động tự do. Các con chung Nguyễn Phương Th và Nguyễn Ngọc Á có nguyện vọng muốn ở với chị Nghiêm Thanh Nh.

* Về tài sản chung, công sức, công nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án là đúng và đề nghị xử ly hôn giữa chị Nghiêm Thanh Nh và anh Nguyễn Thanh B. Về con chung: giao chị Nh trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Á, giao anh B trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phương Th; chị Nh, anh B không phải cấp dưỡng nuôi con chung; đối với con chung Nguyễn Thanh T đã đủ 18 tuổi, trưởng thành, tự lập được nên không đặt ra giải quyết về vấn đề nuôi con sau ly hôn; về tài sản chung, công sức, công nợ: không đặt ra giải quyết và tuyên án phí theo quy định.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm, sau khi thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt chị Nghiêm Thanh Nh và anh Nguyễn Thanh B tuy nhiên chị Nh có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa và đây là lần thứ hai anh B vắng mặt không có lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ; HĐXX căn cứ điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Nh, anh B tại phiên tòa.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nghiêm Thanh Nh và anh Nguyễn Thanh B kết hôn trên cơ sở tự nguyện được Uỷ ban nhân dân xã Ch, huyện D (nay là phường Ch, thị xã Duy Tiên), tỉnh Hà Nam đăng ký kết hôn vào ngày 24/7/2002 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo hộ.

Sau thời gian chung sống giữa vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn là thực tế các bên đã thừa nhận, về nguyên nhân cơ bản dẫn đến mâu thuẫn các đương sự trình bày do vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng; vợ chồng ly thân từ năm 2019 đến nay không quan tâm đến nhau. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả, nay chị Nh kiên quyết xin ly hôn.

Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài vì vậy cần xử ly hôn giữa chị Nh và anh B là phù hợp thực tế và có căn cứ pháp luật.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Nguyễn Thanh T, sinh ngày 17/01/2003, Nguyễn Phương Th, sinh ngày 06/7/2006 và Nguyễn Ngọc Á sinh ngày 25/10/2011.

Đối với con chung Nguyễn Thanh T đã trên 18 tuổi, trưởng thành tự lập được nên chị Nh, anh B không yêu cầu giải quyết được chấp nhận.

Xét nguyện vọng xin nuôi con chung của các đương sự; để đảm bảo quyền, nghĩa vụ và điều kiện nuôi con chung, cân nhắc nguyện vọng của con chung cần giao chị Nh trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Ngọc Á và giao anh B trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Phương Th cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành, tự lập được; chị Nh, anh B không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ, công sức: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Về án phí ly hôn: chị Nghiêm Thanh Nh phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Điều 28; 35; 39; 147; 227; 228; 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Điều 51; 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình;

- Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội.

1. Xử ly hôn giữa chị Nghiêm Thanh Nh và anh Nguyễn Thanh B.

2. Về con chung: Giao chị Nghiêm Thanh Nhàn trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 25/10/2011 và giao anh Nguyễn Thanh B trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Phương Th, sinh ngày 06/7/2006 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành, tự lập được; chị Nh, anh B không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Đối với con chung Nguyễn Thanh T đã trên 18 tuổi, trưởng thành tự lập được nên không đặt ra giải quyết vấn đề nuôi con sau khi ly hôn.

Chị Nghiêm Thanh Nh, anh Nguyễn Thanh B được quyền thăm hỏi, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Chị Nh, anh B và các thành viên trong gia đình không được cản trở anh B, chị Nh trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

3. Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nghiêm Thanh Nh phải chịu 300.000đ. Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị Nhàn đã nộp theo biên lai số 0001934 ngày 28/3/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên được đối trừ khi thi hành án.

Án xử công khai sơ thẩm; chị Nghiêm Thanh Nh, anh Nguyễn Thanh B được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ