- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và tranh chấp nuôi con Phac Duon"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Thạch Thị Su Ph.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2023//HNGĐ-ST Ngày: 04/01/2023 “V/v Ly hôn và tranh chấp về nuôi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Nam;
Ông Lê Văn Được.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Đầy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh: Ông Nguyễn Tấn An, Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 42/2022/TLST-HNGĐ, ngày 28 tháng 9 năm 2022 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2022/QĐHN, ngày 13 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Thạch Thị Su Ph, sinh ngày 22/5/1997. Địa chỉ: Ấp Sóc Ch, xã Hiệp H, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Thạch Đ, sinh năm 1995. Địa chỉ: Ấp Ph, xã Hiệp H, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Thạch Thị Su Ph trình bày:
- Về hôn nhân: Vào năm 2018 chị và anh Thạch Đ, qua thời gian quen biết và tìm hiểu khoảng 02 năm rồi tiến tới hôn nhân, có tiến hành lễ cưới theo phong tục tập quán. Sau khi cưới chị và anh Đươne mới đi đăng ký kết hôn tại UBND xã Hiệp H, huyện Cầu Ngang, vợ chồng cùng đi đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, đến tháng 10 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn về lối sống, do anh Đ không đồng ý cho chị đi làm công ty nên giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra cự cải và anh Đ đã bỏ nhà đi cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Khi anh Đ bỏ nhà về cha mẹ ruột anh thì chị có đến khuyên anh Đ về nhà nhưng anh Đ không đồng ý nên vợ chồng sống ly thân cho đến nay, không liên lạc. Từ đó chị mới làm đơn xin ly hôn. Nay chị yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn với anh Thạch Đ.
- Về nuôi con tên: Thạch Minh Đ, sinh ngày 05/4/2020, hiện tại chị đang nuôi dưỡng, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị không tranh chấp, không khởi kiện.
- Về số nợ phải thu, phải trả: Chị không tranh chấp, không khởi kiện. Ngoài ra chị không có yêu cầu gì khác.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Thạch Đ đều vắng mặt không lý do nên không có lời trình bày.
Lời phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình thụ lý vụ án, xác định quan hệ tranh chấp, xác định người tham gia tố tụng, thành phần tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thành phần Hội đồng xét xử đều đúng quy định của pháp luật. Các văn bản tố tụng từ khi nhận đơn khởi kiện đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa đều được tống đạt đầy đủ cho các đương sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Từ khi thụ lý vụ án, đến khi xét xử nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Thạch Thị Su Ph được ly hôn với anh Thạch Đ, về con chung tên Thạch Minh Đ, sinh ngày 05/4/2020 hiện tại chị Su Ph đang nuôi dưỡng. Khi vợ chồng chị sống ly thân thì chị Su Ph là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ, đảm bảo sự phát triển toàn diện về mọi mặt nên yêu cầu nuôi con chung của chị Su Ph là có cơ sở để chấp nhận. Căn cứ vào Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Su Ph được tiếp tục nuôi con chung tên Thạch Minh Đ, sinh ngày 05/4/2020. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và số nợ phải thu phải trả, chị Su Ph không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét .
- Về án phí: Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị Thạch Thị Su Ph nộp 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
- Phần kiến nghị: Không có
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Anh Thạch Đ là bị đơn trong vụ án nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ theo quy định.
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Thạch Thị Su Ph khởi kiện yêu cầu ly hôn và tranh chấp về nuôi con với anh Thạch Đ, địa chỉ: Ấp Ph, xã Hiệp H, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Căn cứ vào Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang.
Về hôn nhân: Vào năm 2018 chị Su Ph và anh Đ xác lập hôn nhân, sau khi cưới chị Ph và anh Đ cùng đến Ủy ban nhân dân xã Hiệp H, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh để đăng ký kết hôn theo quy định. Từ đó xác định hôn nhân giữa chị Su Ph và anh Đ là hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay chị Su Ph trình bày: Nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng chị là do không hợp nhau về lối sống, anh Đ không đồng ý cho chị đi làm công ty nên giữa vợ chồng xảy ra cự cải và anh Đ bỏ nhà đi từ tháng 10/2021 cho đến nay, không còn quan tâm vợ con. Khi anh Đ, bỏ nhà về cha mẹ ruột thì chị có đến khuyên anh Đ về nhà nhưng anh Đ không đồng ý nên vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị cương quyết xin ly hôn với anh Thạch Đ.
Quá trình giải quyết vụ án anh Thạch Đ đều vắng mặt nên không có lời trình bày.
Xét thấy trong quá trình chung sống, giữa chị Su Ph và anh Đ có xảy ra mâu thuẩn về lối sống nên vợ chồng anh, chị đã sống ly thân từ tháng 10/2021 cho đến nay, không quan liên lạc. Tại phiên tòa hôm nay, chị Su Ph xác định chị không còn tình cảm với anh Đ, chị cương quyết xin ly hôn với anh Đ. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải để tạo cơ hội cho vợ chồng chị Su Ph hàn gắn nhưng anh Đ đều vắng mặt, không lý do. Từ đó xét thấy mâu thuẫn giữa chị Su Ph và anh Đ là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Su Ph, về hôn nhân xử cho chị Thạch Thị Su Ph được ly hôn với anh Thạch Đ.
Về con chung tên: Thạch Minh Đ, sinh ngày 05/4/2020 xét thấy thời gian vợ chồng chị Su Ph sống ly thân, chị Su Ph là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Đ, đảm bảo sự phát triển của con. Căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Su Ph được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Thạch Minh Đ là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Su Ph và anh Đ không khởi kiện, không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ phải thu, phải trả: Chị Su Ph và anh Đ không khởi kiện, không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc chị Thạch Thị Su Ph phải chịu án phí theo quy định.
Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, 235, 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Thạch Thị Su Ph.
- Về hôn nhân: Xử cho chị Thạch Thị Su Ph được ly hôn với anh Thạch Đ.
- Về nuôi con: Chị Thạch Thị Su Ph được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Thạch Minh Đ, sinh ngày 05/4/2020 khi ly hôn.
Anh Thạch Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền ngăn cản. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trỡ người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Su Ph và anh Đ không khởi kiện, không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ phải thu, phải trả của vợ chồng: Chị Su Ph và anh Đ không khởi kiện, không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị Thạch Thị Su Ph phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị Su Ph đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0010970, ngày 22 tháng 9 năm 2022 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Ngang thu. Chị Su Ph đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Chị Thạch Thị Su Ph có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Thạch Đ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện Cầu Ngang; - CCTHADS huyện Cầu Ngang; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Phương Hà |