vanban.org

Bản án 28/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

năm 2015; Điều 91; 95 Luật các tổ chức tín dụng.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuyên buộc bà Nguyễn Thị Thúy A phải có trách nhiệm phải trả cho Ngân hàng Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tuyên buộc bà Nguyễn Thị Thúy A phải có trách nhiệm phải trả cho Ngân hàng TMCP quốc tế Việt Nam số tiền là 709.998.076 đồng (trong đó gốc l…"
  • Tòa quyết gì? năm 2015; Điều 91; 95 Luật các tổ chức tín dụng.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH CỬU
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2023/DS-ST
Ngày: 15/6/2023
V/v: “Tranh chấp hợp đồng
tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Trung Chiến.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Bình

Ông Đặng Văn Nga

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Quyết Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Thái Thị Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 168/2022/TLST-DS ngày 30/11/2022 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2023/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 5 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 425/2023/QĐST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế V (VIB).

Địa chỉ trụ sở chính: Số 5, đường N, quận Đ, TP.Hà Nội

Địa chỉ liên lạc: Tầng 1 và tầng 2, tòa nhà S – 1 đường P, Quận 1, Thành phố Hồ

Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V1 - Chức vụ: Tổng giám đốc

Đại diện theo ủy quyền ông Trần Đức Tân, sinh năm 1991

Chức vụ cán bộ ngân hàng TMCP Quốc Tế V

Địa chỉ liên hệ: tầng 6, tòa nhà P, số 2, đường U, phường 2, quận B, TP.HCM

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy A, sinh năm 1988

Trú tại: Ấp 4, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

(ông T có mặt, bà A vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/5/2022 và lời khai có tại hồ sơ đại diện ủy

quyền của nguyên đơn ông Trần Đức T trình bày:

Vào ngày 22/01/2021 Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế V (gọi tắt là

VIB)- phòng giao dịch Tân Mai và bà Nguyễn Thị Thúy A đã ký kết hợp đồng tín dụng số: 1286403.21 ngày 22/01/2021 với số tiền vay là 600.000.000 đồng, mục đích vay vốn là tiêu dùng (mua xe ô tô nhãn hiệu Honda Civic với thời hạn vay là 60 tháng kể từ ngày 23/01/2021 đến 22/01/2026 năm đầu tiên lãi suất là 9.1%/năm từ năm thứ hai trở đi lãi suất thả nổi theo quy định của Ngân hàng, lãi quá hạn là 150% lãi suất trong hạn. Phương thức trả nợ là trả nợ gốc đều hàng tháng mỗi tháng là 10.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi vào ngày 25 hàng tháng, trả phí theo quy định của VIB từng thời kỳ.

Ngày 22/01/2021 VIB đã giải ngân số tiền 600.000.000 đồng theo đơn đề nghị

giải ngân kiêm khế ước nhận nợ, quá trình thực hiện hợp đồng bà A đã thanh toán cho VIB được tổng số tiền là 142.498.247 đồng trong đó gồm gốc là 100.000.000 đồng lãi là 42.498.247 đồng. Kể từ ngày 12/12/2021 đến nay bà A đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi. Vì vậy đề nghị Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Thúy A phải có trách nhiệm trả nợ cho VIB số tiền tính đến ngày 15/6/2023 là 644.270.548 đồng trong đó gốc là 500.000.000 đồng lãi trong hạn là 18.363.014 đồng lãi quá hạn là 125.907.534 đồng.

Ngoài số nợ trên bà A còn nợ mở thẻ tín dụng là 65.727.528 đồng, hiện tại dư

nợ gốc thẻ là 24.884.097 đồng, lãi thẻ là 11.765.590 đồng, nợ phí thẻ thường niên là 1.397.000 đồng, nợ phí chậm thanh toán là 18.495.862 đồng, nợ phí vượt hạn mức là 9.184.979 đồng.

Đồng thời Ngân hàng yêu cầu bà A có phải chịu lãi tính từ 16/6/2023 theo hợp

đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong hết nợ. Đối với hợp đồng thế chấp ngân hàng không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Ngân hàng không có ý kiến gì thêm.

* Bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy A không có lời khai tại tòa:

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu tại phiên

tòa: Về thẩm quyền giải quyết, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu giải quyết là đúng thẩm quyền; Về xác định tư cách tố tụng là đúng; Thời hạn giải quyết đúng quy định; Hồ sơ gửi Viện kiểm sát đúng quy định; Thủ tục tống đạt cho đương sự đúng quy định; Xác minh thu thập tài liệu chứng cứ đúng quy định.

Vì vậy buộc bà A phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng TMCP quốc tế Việt

Nam (VIB) theo yêu cầu của nguyên đơn. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí: Bà A phải chịu theo quy định của pháp luật.

Do yêu cầu của Ngân Hàng TMCP quốc tế Việt Nam được chấp nhận, nên hoàn

trả lại tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên

tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1]. Về tố tụng:

1.1. Áp dụng Điều 26; 35; 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định căn cứ

vào nơi cư trú của bị đơn, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu.

1.2. Căn cứ vào Điều 85; 86 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về đại

diện theo ủy quyền, ngân hàng VIB có giấy ủy quyền ngày 06/5/2022 cho ông Trần Đức T hợp lệ, nên được chấp nhận.

1.3. Về hồ sơ đăng ký kinh doanh của Ngân hàng có sao y công chứng hợp lệ

nên được chấp nhận.

1.4. Đối với bà Nguyễn Thị Thúy A đã được tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần. Căn

cứ vào điểm b, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bà A.

1.5. Về tư cách tố tụng: Ngân hàng xác định cho mình bà A vay tiền nên không

xác định có ai khác liên quan đến vụ án này.

2]. Về nội dung vụ án:

2.1. Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP quốc tế V đề nghị Tòa

án buộc bà Nguyễn Thị Thúy A phải có trách nhiệm trả cho Ngân Hàng số tiền vay nợ nêu trên, nên xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

2.2. Đối với việc vay nợ giữa Ngân hàng TMCP quốc tế V và bà Nguyễn Thị

Thúy A được thực hiện bằng hợp đồng tín dụng số: 1286403.21 ngày 22/01/2021 và đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 22/01/2021 nên việc vay nợ giữa các bên là có thật.

2.3. Theo lời trình bày của đại diện Ngân hàng TMCP quốc tế Việt Nam ông

Trần Đức T trình bày là phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong vụ án. Nay tại Tòa ông T yêu cầu bà A phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng TMCP quốc tế Việt Nam tính đến ngày 15/6/2023 tổng số tiền là 709.998.076 đồng. Trong đó (hợp đồng tín dụng là 644.270.548 đồng, dư nợ gốc là 500.000.000 đồng lãi trong hạn là 18.363.014 đồng lãi quá hạn là 125.907.534 đồng) và (dư nợ thẻ tín dụng là 65.727.528 đồng, dư nợ gốc là 24.884.097 đồng, nợ lãi thẻ là 11.765.590 đồng, nợ phí thường niên thẻ là 1.397.000 đồng, nợ phí chậm thanh toán là 18.495.862 đồng, nợ phí vượt hạn mức là 9.184.979 đồng) là phù hợp với tài liệu chứng cứ mà đại diện nguyên đơn cung cấp.

2.4. Căn cứ vào hợp đồng tín dụng số: 1286403.21 ngày 22/01/2021 và khế ước

nhận nợ có chữ ký của bà Nguyễn Thị Thúy A và đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 22/01/2021, nhận thấy yêu cầu của Ngân hàng TMCP quốc tế V về việc bà A còn thiếu nợ là có cơ sở.

2.5. Tại hồ sơ không có lời trình bày của bà A, mặc dù Tòa án đã áp dụng nhiều

biện pháp để làm việc với bà A đều không có kết quả như xác minh, niêm yết và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định 03 kỳ liên tiếp nhưng bà A vẫn không có ý kiến gì phản hồi cho Tòa án. Việc vắng mặt của bà A coi như bà A tự tước bỏ quyền trình bày tại Tòa.

2.6. Qua xác minh tại Công an xã Thạnh Phú, bà A có hộ khẩu tại địa phương

nhưng bà A hiện nay không còn sinh sống tại địa phương, hiện tại địa phương không nắm được bà A đang sinh sống tại đâu

2.7. Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu HONDA, số loại: CIVIC biển kiểm soát

60A-918.04 là tài sản đảm bảo cho khoản vay tín dụng nhưng ngân hàng VIB không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét

2.8. Từ những nhận định trên xét thấy yêu cầu của Ngân hàng TMCP quốc tế

Việt Nam đề nghị Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Thúy A phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP quốc tế Việt Nam tổng số tiền là 709.998.076 đồng là có cơ sở chấp nhận.

3]. Về chi phí tố tụng: Đối với chi phí đăng công báo trên phương tiện truyền

thông đại chúng, đại diện ngân hàng đã làm đơn yêu cầu và nộp tạm ứng chi phí tố tụng. Căn cứ vào Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự thì Ngân hàng VIB phải chịu chi phí này. Đại diện ngân hàng VIB đã nộp đủ, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4]. Về án phí: Do yêu cầu của Ngân hàng TMCP quốc tế V được chấp nhận

nên Ngân hàng VIB không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại Ngân hàng VIB tiền tạm ứng án phí đã nộp là 853.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0004739 ngày 30/11/2022 và số tiền 12.400.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0004740 ngày 30/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu.

Buộc bà Nguyễn Thị Thúy A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 32.399.923

đồng (của số tiền phải trả là 709.998.076).

5]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh

Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26; 35; 39; 147; 227; 269; 271; 273; 278; 280 Bộ luật tố tụng dân sự

năm 2015; Điều 91; 95 Luật các tổ chức tín dụng. Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tuyên buộc bà Nguyễn Thị Thúy A phải có trách nhiệm phải trả cho Ngân hàng

TMCP quốc tế Việt Nam số tiền là 709.998.076 đồng (trong đó gốc là 524.884.079 đồng, lãi là 185.113.995 đồng tính đến hết ngày 15/6/2023)

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 16/6/2023), bà An còn phải có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP quốc tế V khoản tiền lãi trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng các bên đã ký cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thúy A phải chịu 32.399.923 đồng án phí dân sự

sơ thẩm.

Hoàn trả lại Ngân hàng TMCP quốc tế V tiền tạm ứng án phí đã nộp là 853.000

đồng tại biên lai thu tiền số 0004739 ngày 30/11/2022 và số tiền 12.400.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0004740 ngày 30/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu.

3. Đại diện ngân hàng được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày

tuyên án.

Bà Nguyễn Thị Thúy A được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ

ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ