vanban.org

Bản án 28/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP

Buộc ông Y D Ml, bà H R Kđ có trách nhiệm liên đới trả nợ cho Ngân hàng TMCP số tiền 609.733.435 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 410.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 22/6/2023 là 130.823.945 đồng lãi suất trong hạn, 67.358.219 đồng lãi suất quá hạn, 1.551.271 đồng lãi chậm trả lãi, tiếp tục tính n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng BIDV - Y Duân, H Rơi"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CUM’GAR
TỈNH ĐĂK LĂK
Bản án số: 28/2023/DS-ST
Ngày: 22-6-2023
“V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Y Lợi Niê

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Mạnh, bà Trần Thị Thanh Thẩm

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đức Đuống – Là thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar tham gia phiên tòa: Ông Dương Hoàng Long – Kiểm sát viên

Trong ngày 22 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 262/2022/TLST-DS ngày 12 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2023/QĐXXST-DS ngày 19/5/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2023/QĐST-DS ngày 06/6/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP.

+ Đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T – Chủ tịch HĐQT

Địa chỉ: Tháp BV, 194 Tr Q Kh, Q. HK, Tp. HN.

+ Đại diện theo ủy quyền: Ông Nông Hà H – Giám đốc Ngân hàng TMCP– Chi nhánh BH.

+ Đại diện theo ủy quyền lại: Ông Lê Minh T - Giám đốc Ngân hàng TMCP – Chi nhánh BH - PGD PDR.

+ Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Y K NB – Cán bộ chuyên

trách xử lý nợ (Văn bản ủy quyền số 1146/BV ngày 01/7/2022) (Có mặt) Địa chỉ: Quốc lộ 14, xã PDR, huyện KrB, tỉnh DL.

- Bị đơn: Ông Y D Ml (Vắng mặt), bà H RKđ (Có mặt) Cùng địa chỉ: BP, xã CDl, huyện CM, tỉnh DL.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, quá trình tố tụng, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Y K NB trình bày:

Ông Y D Mlvà bà H R Kđ có vay vốn tại Ngân hàng TMCP (chi nhánh BH – Phòng giao dịch Pdr) 02 hợp đồng tín dụng:

1/ Hợp đồng tín dụng số 01/2019/9128450/HĐTD ngày 13/11/2019 cụ thể: Số tiền vay 260.000.000 đồng, thời hạn vay 03 tháng, lãi suất trong hạn 9,9%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi suất chậm trả đối với nợ chậm trả 10%/năm, mục đích vay để đầu tư chăm sóc cà phê, tiêu, chăn nuôi; ngày trả nợ gốc 13/02/2020.

2/ Hợp đồng tín dụng số 02/2019/ 9128450/HĐTD ngày 13/11/2019, cụ thể: Số tiền vay 150.000.000 đồng, thời hạn vay 03 tháng, lãi suất trong hạn 9,6%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi suất chậm trả đối với nợ chậm trả 10%/năm, mục đích vay để đầu tư chăm sóc cà phê, tiêu, chăn nuôi; ngày trả nợ gốc 13/02/2020.

Để đảm bảo cho khoản vay trên, ông Y D, bà H R ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 01/2016/9128450/HĐBĐ ngày 27/10/2016 để thế chấp: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 389997 do UBND huyện CM cấp ngày 01/11/2013, thuộc thửa đất số 330 tờ bản đồ 11, diện tích 3.788 m2 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 389996 do UBND huyện CM cấp ngày 01/11/2013, thuộc thửa đất số 118 tờ bản đồ 11, diện tích 8.054 m2, cả 02 thửa đất tọa lạc tại xã C Dl, huyện CM, tỉnh DL.

Quá trình vay ông Y D, bà H R không thực hiện nghĩa vụ trả nợ và đã vi phạm theo cam kết của hợp đồng, vì vậy Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Y D Ml, bà H R Kđ thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là 609.733.435 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 410.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 22/6/2023 là 130.823.945 đồng lãi suất trong hạn, 67.358.219 đồng lãi suất quá hạn, 1.551.271 đồng lãi chậm trả lãi, đồng thời tiếp tục tính tiền lãi phát sinh cho đến khi ông Y D, bà H R thanh toán hết nợ cho Ngân hàng. Trường hợp ông Y D, bà H R không thanh toán hết nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Y D vẫn vắng mặt tại các buổi làm việc, công khai chứng cứ và hòa giải, phiên xét xử nên Tòa án không thể lấy ý kiến của ông Y D về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không thể tiến hành hòa giải được.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Đối với Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa về cơ bản đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Đối với nguyên đơn thực hiện đầy đủ, đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, vắng mặt tại phiên tòa.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 463; 464; 466; 468 Bộ luật dân sự, Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông Y D Ml, bà H R Kđ trả nợ cho Ngân hàng TMCP số nợ gốc 410.000.000 đồng và nợ lãi theo quy định. Trường hợp ông Y D Ml, bà H R Kđ không trả nợ hoặc không trả nợ đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Về án phí: Ông Y D Ml, bà H R Kđ phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn là ông Y D Ml, bà H R Kđ, trú tại BP, xã C Dl, huyện CM, tỉnh DL trả số tiền đã vay và lãi suất theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn ông Y D Ml nhưng ông Y D Ml vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về số nợ: Căn cứ vào lời trình bày của đương sự và các tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định:

Ông Y D Ml, bà H R Kđ có ký vay vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam theo hợp đồng tín dụng:

1/ Hợp đồng tín dụng số 01/2019/9128450/HĐTD ngày 13/11/2019 cụ thể: Số tiền vay 260.000.000 đồng, thời hạn vay 03 tháng, lãi suất trong hạn 9,9%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi suất chậm trả đối với nợ chậm trả 10%/năm, mục đích vay để đầu tư chăm sóc cà phê, tiêu, chăn nuôi; ngày trả nợ gốc 13/02/2020.

2/ Hợp đồng tín dụng số 02/2019/ 9128450/HĐTD ngày 13/11/2019, cụ thể: Số tiền vay 150.000.000 đồng, thời hạn vay 03 tháng, lãi suất trong hạn 9,6%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi suất chậm trả đối với nợ chậm trả 10%/năm, mục đích vay để đầu tư chăm sóc cà phê, tiêu, chăn nuôi; ngày trả nợ gốc 13/02/2020.

Xét hợp đồng tín dụng ký kết giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật, việc vợ chồng ông Y D, bà H R không trả nợ cho Ngân hàng là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo hợp đồng tín dụng nên Ngân hàng có quyền yêu cầu bên vay trả toàn bộ số nợ đã vay theo Hợp đồng tín dụng đã kí kết. Do đó, cần buộc ông Y D, bà H R trả nợ toàn bộ số nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng là phù hợp với quy định tại các Điều 463; 466; 468 Bộ luật dân sự.

Cụ thể: Tổng số nợ là 609.733.435 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 410.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 22/6/2023 là 130.823.945 đồng lãi suất trong hạn, 67.358.219 đồng lãi suất quá hạn, 1.551.271 đồng lãi chậm trả lãi, đồng thời tiếp tục tính tiền lãi phát sinh cho đến khi ông Y D, bà H R thanh toán hết nợ cho Ngân hàng. Trường hợp ông Y D, bà H R không thanh toán hết nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ; tiếp tục tính nợ lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã kí kết từ ngày 23/6/2023 cho đến khi ông Y D và bà H R trả hết nợ cho Ngân hàng.

Về tài sản bảo đảm: Để bảo đảm cho khoản vay, ông Y D Ml và bà H R Kđ ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 01/2016/9128450/HĐBĐ ngày 27/10/2016 để thế chấp: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 389997 do UBND huyện CM cấp ngày 01/11/2013, thuộc thửa đất số 330 tờ bản đồ 11, diện tích 3.788 m2 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 389996 do UBND huyện CM cấp ngày 01/11/2013, thuộc thửa đất số 118 tờ bản đồ 11, diện tích 8.054 m2, cả 02 thửa đất tọa lạc tại xã C Dl, huyện CM, tỉnh DL.

Xét hợp đồng thế chấp đã kí kết giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật nên hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật. Do đó, trong trường hợp ông Y D, bà H R không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Trường hợp ông Y D, bà H R tự nguyện trả hết nợ thì Ngân hàng có trách nhiệm trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 389997 và BO 389996 do UBND huyện CM ngày 01/11/2013 cho ông Y D, bà H R.

Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Do yêu cầu xem xét thẩm định của nguyên đơn là có căn cứ nên bị đơn ông Y D, bà H R phải chịu 4.000.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Ngân hàng được nhận lại 4.000.000 đồng tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định sau khi thu được từ ông Y D, bà H R.

Về án phí và chi phí tố tụng:

- Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn ông Y D, bà H R phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả, cụ thể: 20.000.0000đ + (609.733.435 – 400.000.000đ) x 4% = 28.389.000 đồng (đã làm tròn).

- Về chi phí tố tụng khác: ông Y D, bà H R phải chịu 4.000.000 đồng tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

Ngân hàng được nhận lại số tiền 4.000.000 đồng tiền tạm ứng đã nộp, sau khi thu được từ ông Y D, bà H R.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 157; Điều 158; khoản 2 Điều 227; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 463; 466; 468 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Thông tư số 12/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng Nhà nước.

Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP

Buộc ông Y D Ml, bà H R Kđ có trách nhiệm liên đới trả nợ cho Ngân hàng TMCP số tiền 609.733.435 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 410.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 22/6/2023 là 130.823.945 đồng lãi suất trong hạn, 67.358.219 đồng lãi suất quá hạn, 1.551.271 đồng lãi chậm trả lãi, tiếp tục tính nợ lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã kí kết từ ngày 23/6/2023 theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 01/2019/9128450/HĐTD ngày 13/11/2019 và hợp đồng tín dụng số 02/2019/ 9128450/HĐTD ngày 13/11/2019 cho đến khi ông Y D, bà H R thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán nợ.

Khi ông Y D Ml, bà H R Kđ trả xong nợ thì Ngân hàng TMCP có trách nhiệm trả lại cho ông Y D Mlô, bà H R Kđ 02 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 389997 và BO 389996 do UBND huyện CM cấp ngày 01/11/2013 cho ông Y D Ml, bà H R Kđ.

Trường hợp ông Y D Ml, bà H R Kđ không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng TMCP có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản theo hợp đồng thế chấp số 01/2016/9128450/HĐBĐ ngày 27/10/2016 đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 330 tờ bản đồ 11, diện tích 3.788 m2 và thửa đất số 118 tờ bản đồ 11, diện tích 8.054 m2, cả 02 thửa đất tọa lạc tại xã C Dl, huyện CM, tỉnh DL để thu hồi nợ.

Về án phí và chi phí tố tụng:

Về án phí: Ông Y D Ml, bà H R Kđ phải chịu 28.389.000 đồng (đã làm tròn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng TMCP được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 13.059.000 đồng theo biên lai thu số 60AA/2021/0008736 ngày 01/7/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Kr B, tỉnh DL.

Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Y D Ml, bà H R Kđ phải chịu 4.000.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Ngân hàng TMCP được nhận lại 4.000.000 đồng tiền tạm ứng xem xét thẩm định tại chỗ sau khi thu được ông Y D Ml, bà H R Kđ.

Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ. Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ