- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần V phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2022/HSST Ngày: 25/01/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huế.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vỵ và ông Nguyễn Hữu Trực.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Huyền Trang- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Hồ Đức Chính- Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (60 Nguyễn Huệ, Huế) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 317/2021/HSST ngày 17 tháng 12 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2022/QĐXXST-HS ngày 10/01/2022 đối với các bị cáo:
Trần V, tên gọi khác: Không; sinh năm 1972 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Số nhà 15 kiệt 178 đường H (Tổ 19, khu vực 7), phường A, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần B (chết), con bà Trần Thị B (chết); vợ: Lê Thị V, sinh năm 1972; con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2010.
Quá trình nhân thân: Lúc nhỏ ở với cha mẹ, đi học đến lớp 6/12 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình. Hiện tại ở nhà, không có việc làm. Ngày 20/01/2021, bị Công an phường An Đông, thành phố Huế xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép với số tiền 1.500.000 đồng (Quyết định số 3051/QĐ-XPHC), đã nộp đủ tiền phạt ngày 22/01/2021. Tiền án: Không; Tiền sự: Có 01 tiền sự (Quyết định số 3051/QĐ-XPHC ngày 20/01/2021 của Công an phường An Đông); Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 08/10/2021 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Trần M, tên gọi khác: Không; sinh ngày 22/4/1982 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Số nhà 11 kiệt 178 đường H (Tổ 19, khu vực 7), phường A, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Cho thuê rạp; trình độ văn hoá: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần M, sinh năm 1952 (chết), con bà Nguyễn Thị T (chết); vợ: Phạm Thị Lan H, sinh năm 1991; con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2015.
Quá trình nhân thân: Lúc nhỏ ở với cha mẹ, đi học đến lớp 12/12 thì nghỉ học, sau đó tham gia nghĩa vụ quân sự, đến năm 2003 thì trở về địa phương sinh sống cùng gia đình và làm nghề cho thuê rạp. Ngày 26/8/2020, bị Công an thành phố Huế xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép với số tiền 1.000.000 đồng (Quyết định số 3875/QĐ-XPHC). Tiền án: Không; Tiền sự: Có 01 tiền sự (Quyết định số 3875/QĐ-XPHC ngày 26/8/2020 của Công an thành phố Huế); Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 08/10/2021 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người làm chứng:
Chị Phạm Thị P, sinh năm 1971. Nơi cư trú: Số 20/42/246 đường H, phường A, thành phố Huế, vắng mặt.
Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1970. Nơi cư trú: Số 178 đường H, phường A, thành phố Huế, vắng mặt.
Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Tổ 19, khu vực 7, phường A, thành phố Huế, vắng mặt.
Cháu Trần D, sinh năm 2010. Nơi cư trú: Số nhà 15 kiệt 178 đường H (Tổ 19, khu vực 7), phường A, thành phố Huế, vắng mặt. Người đại diện hợp pháp của cháu Trần Dự: Bà Lê Thị V, sinh năm 1972. Nơi cư trú: Số nhà 15 kiệt 178 đường H (Tổ 19, khu vực 7), phường A, thành phố Huế, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 21/8/2021, tại nhà Trần Vinh ở số 15/178 đường H, phường A, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế tổ chức cúng rằm và mời một số anh chị em họ hàng đến tham dự. Sau khi cúng rằm xong, Trần V, Trần M, Nguyễn Thị C và Phạm Thị P rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh “bài phỏm” thắng thua bằng tiền Việt Nam đồng. Quá trình đánh bạc dưới hình thức đánh “Bài phỏm” các đối tượng thống nhất với nhau cách thức đánh là không ăn gà, ăn chốt, chỉ tính điểm và không tổ chức thu tiền xâu. Mỗi ván đánh người nào có điểm cao nhất sẽ thắng số tiền 60.000 đồng; những người có số điểm thấp thứ hai, thứ ba, thứ tư lần lượt thua số tiền tương ứng là 10.000 đồng, 20.000 đồng và 30.000 đồng.
Vào lúc 12 giờ 45 phút cùng ngày, khi các đối tượng trên đang đánh bạc thì bị Công an phường A, thành phố Huế kiểm tra phát hiện lập biên bản ghi nhận sự việc.
Qua điều tra xác đinh: Trần V dùng số tiền 40.000 đồng để đánh bạc, lúc bị lực lượng Công an phát hiện V không còn tiền; Trần M mang theo 200.000 đồng để đánh bạc, lúc Công an phường An Đông, thành phố Huế phát hiện thì thu giữ trong người M số tiền 350.000 đồng dùng để đánh bạc; Phạm Thị P dùng số tiền 590.000 đồng để đánh bạc, khi bị Công an phường An Đông, thành phố Huế phát hiện thì Phương còn 60.000 đồng; Nguyễn Thị Cúc mang theo số tiền 320.000 đồng, khi bị Công an phường An Đông, thành phố Huế phát hiện thì thu giữ từ Cúc số tiền 740.000 đồng.
Trước đó, vào ngày 20/01/2021, Trần V bị Công an phường An Đông, thành phố Huế xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc trái phép với số tiền 1.500.000 đồng (Quyết định số 3051/QĐ-XPHC); Vào ngày 26/8/2020, Trần M bị Công an thành phố Huế xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc trái phép với số tiền 1.000.000 đồng (Quyết định số 3875/QĐ-XPHC). Do đó, Công an phường An Đông đã chuyển hồ sơ vụ việc (cùng vật chứng) cho cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ:
- Tiền thu giữ trên chiếu bạc: 1.150.000 đồng.
- 01 bộ bài “Tú lơ khơ” 52 lá (đã qua sử dụng).
- Thu giữ trong người của Nguyễn Thị C số tiền 12.349.000 đồng (Mười hai triệu ba trăm bốn mươi chín ngàn đồng). Kết quả điều tra xác định số tiền này C không sử dụng vào việc đánh bạc.
Xử lý vật chứng: Số tiền 12.349.000 đồng thu giữ trong người của Nguyễn Thị C không sử dụng vào mục đích đánh bạc nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Nguyễn Thị C.
Đối với Nguyễn Thị C và Phạm Thị P có hành vi đánh bạc trái phép với Trần V và Trần M nhưng tang số đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, C và P không có tiền án, tiền sự về hành vi “Đánh bạc” hoặc “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Do đó Công an thành phố Huế đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với C và P là có căn cứ pháp luật.
Tại cơ quan điều tra, các bị cáo Trần V và Trần M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 16/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế quyết định truy tố các bị cáo Trần V, Trần M về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Trần V và bị cáo Trần M 01 năm đến 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu huỷ: 01 bộ bài Tú lơ khơ 52 lá (đã qua sử dụng); Sung công quỹ Nhà nước: số tiền 1.150.000 đồng;
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Huế, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, người làm chứng, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo Trần V, Trần M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xét lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 12 giờ 45 phút ngày 21/8/2021, tại nhà số 15/178 đường Hải Triều, phường An Đông, thành phố Huế, Công an phường An Đông, thành phố Huế Trần V, Nguyễn Thị C, Phạm Thị P và Trần M có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh “Bài phỏm”, thắng thua bằng tiền Việt Nam đồng. Tổng số tiền Trần V, Nguyễn Thị C, Phạm Thị P và Trần M dùng để đánh bạc là 1.150.000 đồng. Trần V và Trần M đã bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi này nhưng lại tiếp tục có hành vi “Đánh bạc” nên đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố đối với các bị cáo Trần V và Trần M là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Cả hai bị cáo đều không phạm vào tình tiết tăng nặng nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Cả hai bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hình phạt: Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm thu lợi bất chính. Đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn, không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ, V và M đều thực hiện vai trò ngang nhau.
Đối với bị cáo Trần M, đã từng tham gia nghĩa vụ quân sự 2 năm, được Trung đoàn 4- Sư đoàn 324 tặng thưởng danh hiệu Chiến sĩ giỏi năm 2001, Bằng khen hoàn thành tốt nhiệm vụ năm 2002, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo.
Đối với bị cáo Trần V, hiện đang bị lao phổi, vợ bị bệnh tiểu đường tuýp 3, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo.
Do các bị cáo tham gia đánh bạc với số tiền không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng và không có khả năng gây nguy hiểm cho xã hội; khi phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có thái độ thành khẩn, nên không cần thiết áp dụng hình phạt tù mà có thể áp dụng Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt các bị cáo bằng hình thức cải tạo không giam giữ, giao cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú và gia đình của các bị cáo quản lý giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe phòng ngừa, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật. Xét các bị cáo hiện tại có hoàn cảnh khó khăn, làm thuê kiếm sống, không có thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo.
Đối với Nguyễn Thị C và Phạm Thị P tham gia đánh bạc nhưng số tiền dùng đánh bạc dưới 5.000.000 đồng và không ai có tiền án tiền sự về tội “Đánh bạc” hoặc “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Do đó, Công an thành phố Huế đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền mỗi người 1.500.000 đồng là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 1.150.000 đồng là số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc, là công cụ phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước; Đối với 01 bộ bài Tú lơ khơ 52 lá là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; Đối với số tiền 12.349.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế đã trả lại cho chủ sở hữu là Nguyễn Thị C là đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí : Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; Điều 36; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Trần V phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: Bị cáo Trần V 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Trần V cho Ủy ban nhân dân phường An Đông, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Trần V.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; Điều 36; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Trần M phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: Bị cáo Trần M 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Trần M cho Ủy ban nhân dân phường An Đông, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Trần M.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên bố:
- Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước: số tiền 1.150.000 đồng;
(Số tiền này được cơ quan điều tra nộp vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, theo giấy nộp tiền số 394901054597 ngày 16/12/2021 của Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam- chi nhánh TTHuế).
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 bộ bài “Tú lơ khơ” 52 lá.
(Vật chứng trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/12/2021 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc các bị cáo Trần V và Trần M mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh TTHuế; -Sở Tư pháp tỉnh TTHuế; -Phòng PV06 Công an tỉnh TTHuế; -Công an thành phố Huế; -VKSND thành phố Huế; -THA HS, THA DS; -Các bị cáo; -Lưu. | TM/HỘI Đ NG XÉT X SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Huế |