- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGuyễn Thị Thu Trang - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thu T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:28/2022/HSST Ngày: 18- 4 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán -Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Chung và bà Đặng Thị Huệ
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Thảo Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Doanh - KiÓm s¸t viªn.
Ngày 18 tháng 4 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/TLST-HS ngày 23 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2022/QĐXXST-HS, ngày 04/4/2022, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Thu T, sinh ngày 01/9/1991; tên gọi khác: Không; giới tính: Nữ; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn P, thị trấn C, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ; Tạm trú tại: Tổ 9, phường Tân Quang, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể trước khi phạm tội: Không; con ông: Nguyễn Văn Bình (đã chết) và bà: Nguyễn Thị Lan, sinh năm 1963; Chồng, con: Chưa có;
- Tiền án, tiền sự: Không;
- Nhân thân: Không
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/10/2021, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1991, trú tại khu Phú Động, thị trấn Cẩm Khê, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, tạm trú tại tổ 9, phường Tân Quang, thành phố Tuyên Quang, là nhân viên làm thuê cho Nguyễn Thị Nhung (thường gọi là Nhung Tẩu) trú tại tổ 9, phường Tân Quang, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang, công việc là rót rượu, bia tại các quán ăn và quán hát trên địa bàn thành phố Tuyên Quang. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 04/10/2021, Trang sử dụng điện thoại di động cá nhân có số thuê bao xxxx.xxx.xxx gọi đến số thuê bao xxxx.xxx.xxx của một người phụ nữ tên Linh nhà ở khu vực thành phố Tuyên Quang (Trang không biết họ tên đầy đủ và địa chỉ của Linh) và nói “Chị bán cho em một viên và ít Ke với giá hai triệu” ý của Trang hỏi mua một viên ma túy dạng Kẹo (MDMA) và ma túy Ke (Ketamine) với số tiền là hai triệu đồng. Linh đồng ý và bảo Trang “khi chị đến chỗ nào thì chị gọi”, khoảng 30 phút sau Linh gọi điện cho Trang và bảo “Em ra ngã tám ở cột điện gần đèn đỏ chị để trong bao thuốc lá đặt ở dưới đất”, Trang nói lại với Linh “Tiền em nợ” (trước đó Trang đã mua ma túy của Linh và chưa trả tiền). Sau đó Trang một mình đi xe máy ra ngã tám chỗ Linh chỉ dẫn và thấy ở dưới cột điện gần đèn đỏ một bao thuốc lá Thăng Long loại vỏ bao màu vàng, Trang xác định đó là vỏ bao thuốc lá đựng ma túy của Linh để ở đó nên cầm bao thuốc và đi về phòng trọ. Khi về đến phòng Trang mở bao Thuốc lá ra thì thấy bên trong có một túi nilon màu trắng, bên trong có một viên nén màu xanh và một túi nhỏ nilon màu trắng có mép viền màu xanh, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, Trang xác định viên nén mầu xanh đó là ma túy loại MDMA và chất tinh thể mầu trắng là ma túy loại Ketamine, Trang cất giấu toàn bộ số ma túy đó vào trong túi xách của mình để khi nào có nhu cầu sẽ mang ra sử dụng, còn chiếc vỏ bao Thuốc lá Trang vứt vào sọt giác.
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 06/10/2021, Nguyễn Thị Nhung gọi điện thoại bảo Trang cùng Hoàng Ngọc Bích, sinh năm 2000, Nơi ĐKHKTT thôn Đồng Tâm, Liễu Đô, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái; Nguyễn Thị Kim Chi, sinh năm 1993, Nơi ĐKHKTT thôn Đạo Thượng, xã Tân Hưng, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội; Trần Thị Thu Huyền, sinh năm 1991, Nơi ĐKHKTT thôn Yên Lịch, xã Dân Tiến, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên (hiện nay đều đang tạm trú tại tổ 9, phường Tân Quang, thành phố Tuyên Quang) đến nhà hàng Mộc thuộc phường Minh Xuân, thành phố Tuyên Quang để ăn cơm, uống rượu với khách. Trang cầm theo chiếc túi xách có cất giấu ma túy trong đó từ trước rồi cùng với Bích, Chi và Huyền đi đến quán Mộc. Khi đến quán Trang thấy có Trần Minh Thanh; sinh năm 1979,trú tại số nhà 34, ngõ 429 Thụy Khuê, phường Bưởi, quận Tây Hồ, TP. Hà Nội; Hà Đăng Chỉnh, sinh năm 1978, trú tại Tổ dân phố Trung 1, phường Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội; Đinh Công Định, sinh năm 1987, trú tại Thôn Lầy, xã Đào Viên, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh và một người đàn ông tên Hào (Trang không biết họ tên đầy đủ và địa chỉ của Hào), Trang cùng với Bích, Chi, Huyền vào rót rượu và uống rượu cùng những người khách trên. Ăn uống đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì Trang hỏi có đi hát karaoke không, Thanh, Chỉnh, Định và Hào đồng ý tất cả những người trên cùng nhau đi đến quán Karaoke Huyền My, thuộc thôn Chè Đen 1, xã Hoàng Khai, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang để hát. Khi đến quán hát Huyền My Trang cùng mọi người được Trần Tuấn Anh là chủ quán đưa lên tầng 2 phòng 4 để hát, sau khi hát được khoảng một giờ đồng hồ thì Hào đi về trước, thấy khách định về nên Trang yêu cầu Trần Minh Thanh trả tiền công rót rượu, tiếp khách cho nhóm của Trang là 5.500.000đ bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng của Trang, sau khi nhận được tiền do Thanh chuyển khoản Trang đã chuyển vào tài khoản của Linh 4.900.000đ để trả tiền 02 lần mua ma túy của Linh. Sau đó, Trang đi xuống bếp của quán hát lấy một chiếc đĩa sứ màu trắng có viền màu đen mang lên phòng hát rồi lấy trong túi xách của mình ra số ma túy đã giấu trước đó đổ một ít ma túy (loại Ketamine) ra đĩa, số ma túy còn lại gồm 01 viên nén màu xanh và Ketamine Trang cất giấu vào trong túi xách của mình rồi lấy 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng cuộn lại thành chiếc ống rồi dùng hít ma tuý trên đĩa vào cơ thể qua đường mũi, số ma túy Ketamine còn lại trên đĩa sứ Trang vẫn để trên bàn trong phòng hát, sau đó Trang ngồi nghe hát.
Đến khoảng 02 giờ ngày 07/10/2021,tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Công an xã Hoàng Khai, huyện Yên Sơn đến kiểm tra Phòng hát số 4 quán Karaoke Huyền My phát hiện trong phòng hát có 07 người gồm 03 nam, 04 nữ, trên mặt bàn uống nước trong phòng một đĩa sứ màu trắng có viền màu đen trên mặt đĩa có chất tinh thể màu trắng, Tổ công tác tiến hành thu giữ toàn bộ số chất tinh thể màu trắng trong đĩa sứ cho vào một túi nilon màu trắng trên mép có đường viền màu đỏ và cho vào bì niêm phong (M1); 01 tờ tiền VNĐ mệnh giá năm mươi nghìn được quấn lại thành hình dạng ống; một thẻ màu hồng trên mặt thẻ có ghi chữ “HERMES PaRiS”, được niêm phong theo quy định. Kiểm tra tư trang đối với những người trong phòng hát, phát hiện trong túi sách tay của Nguyễn Thị Thu T 01(một) túi nilon màu trắng bên trong có 01 viên nén màu xanh và 01 túi nilon màu trắng có đường viền màu xanh bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, Trang khai nhận số tinh thể màu trắng trong đĩa sứ và viên nén màu xanh cùng số chất tinh thể màu trắng để trong túi xách tay là ma túy của Trang đem theo để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã thu giữ túi nilon chứa viên nén mầu xanh và túi nilon chứa chất tinh thể mầu trắng của Trang cho vào bì niêm phong (M2). Tiến hành kiểm tra đối với những người khác trong phòng hát không phát hiện và thu giữ gì có liên quan đến ma túy. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Tuyên Quang đã lập biên bản và ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Thị Thu T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy đối với Nguyễn Thị Thu T, Hoàng Ngọc Bích, Nguyễn Thị Kim Chi, Trần Thị Thu Huyền, Trần Minh Thanh kết quả đều (+) dương tính (có chất ma túy trong cơ thể). Trang, Bích, Chi, Huyền và Thanh công nhận kết quả xét nghiệm là đúng vì Trang mới sử dụng ma túy tại quán hát còn Bích sử dụng ma túy ngày 04/10/2021 tại quán hát Karaoke Xứng Quỳnh thuộc Km 12 đường Tuyên Quang đi Hà Nội, Chi sử dụng ma túy ngày 05/10/2021 tại quán hát Karaoke AA thuộc phường Tân Quang, thành phố Tuyên Quang, Huyền sử dụng ma túy ngày 05/10/2021 tại phòng trọ và Thanh sử dụng ma túy ngày 04/10/2021 tại thành phố Hà Nội.
- Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy đối với Trần Tuấn Anh, Hà Đăng Chỉnh và Đinh Công Định có kết quả (-) âm tính (không có chất ma túy trong cơ thể).
Tại kết luận giám định số: 880/GĐKTHS ngày 11/10/2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang kết luận:
- 01 (một) viên nén mầu xanh trong bì niêm phong ký hiệu M2 (thu giữ của Nguyễn Thị Thu T) là chất ma túy, loại MDMA, khối lượng 0,417g (không phẩy bốn một bảy gam).
- Mẫu vật trong bì niêm phong ký hiệu M1 và Chất tinh thể mầu trắng trong bì niêm phong ký hiệu M2 (thu giữ của Nguyễn Thị Thu T) gửi giám định là chất ma túy; loại Ketamin khối lượng 0,236g và 0,576g (Tổng khối lượng Ketamine là 0,812g);
Vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ toàn bộ số ma tuý thu giữ của bị cáo 0,417g MDMA; 0,812g Ketamine; 01 đĩa sứ màu trắng có viền màu đen đường kính khoảng 27cm; một tờ tiền VNĐ mệnh giá 50.000đồng; 01 thẻ có in chữ “HerMes Paris” màu hồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE mặt sau có chữ và số: model A1688 FCC ID: BCG-E2946A IC: 579C-E 2946A; 01 thẻ ngân hàng Agribank mang tên Nguyễn Thị Thu T.
Tại Cáo trạng số: 25/CT-VKSYS, ngày 22 tháng 3 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn đã quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thu T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy;
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu T từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 07/10/2021.
Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo đã niêm phong trong bì niêm phong, 01 đĩa sứ màu trắng có viền màu đen đường kính khoảng 27cm và 01 thẻ có in chữ “HerMes Paris” màu hồng.
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE lưng điện thoại có dẫy chữ và số: Model A1688 FC ID: BCG-E2946A IC: 579C-E 2946A điện thoại cũ đã qua sử dụng; 01 thẻ ngân hàng Agribank (thẻ ATM) mang tên Nguyễn Thị Thu T.
Tịch thu sung quỹ nhà nước một tờ tiền VNĐ mệnh giá 50.000đồng.
Áp dụng các Điều 136, 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Tại phiên tòa bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, không có tình tiết mới. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì kết luận giám định. Bị cáo không có ý kiến tranh luận về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thu T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng. Trong khoảng thời gian từ 17 giờ ngày 04/10/2021 đến 02 giờ ngày 07/10/2021, tại phòng trọ nơi tạm trú và tại quán Karaoke Huyền My thuộc thôn Chè Đen 1, xã Hoàng Khai, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang: Nguyễn Thị Thu T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,417g (Không phẩy bốn một bẩy gam) MDMA, số thứ tự 21 thuộc danh mục IA và 0,812g (Không phẩy tám một hai gam) Ketamine số thứ tự 35 thuộc danh mục III - Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018, của Chính phủ, với mục đích để sử dụng, bị tổ công tác Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh Tuyên Quang kiểm tra bắt, giữ.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, mục đích để sử dụng. Căn cứ Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015, thì: Khối lượng MDMA thu giữ là 0,417 gam: 0,417: 05 = 8,34%; Khối lượng Ketamine thu giữ là 0,812 gam: 0,812: 20 = 4,06%. Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của MDMA và Ketamine là: 8,34% + 4,06% = 12,4%, nên bị cáo thuộc trường hợp truy tố theo điểm i, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo khai báo thành khẩn, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân thường gây ra các tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Vì vậy cần phải có mức hình phạt tù nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo tại cơ sở giam giữ một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời góp phần vào công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, khối lượng chất ma tuý mà bị cáo tàng trữ, cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, có căn cứ.
. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
. Về vật chứng: Đối với khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo đã niêm phong trong bì niêm phong, 01 đĩa sứ màu trắng có viền màu đen đường kính khoảng 27cm và 01 thẻ có in chữ “HerMes Paris” màu hồng là vật chứng vụ án cần tịch thu tiêu hủy. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE lưng điện thoại có dẫy chữ và số: Model A1688 FC ID: BCG-E2946A IC: 579C-E 2946A điện thoại cũ đã qua sử dụng; 01 thẻ ngân hàng Agribank (thẻ ATM) mang tên Nguyễn Thị Thu T. Tịch thu sung quỹ nhà nước một tờ tiền VNĐ mệnh giá 50.000đồng. [6]. Đối với người phụ nữ tên Linh đã hai lần bán ma túy cho Trang. Theo lời khai bị cáo chỉ biết người đó tên Linh, nhưng không biết chính xác tên, họ địa chỉ cụ thể. Cơ quan CSĐT đã áp dụng các biện pháp điều tra theo quy định và xác định tài khoản ngân hàng số 1022914533 và số điện thoại di động xxxx.xxx.xxx của người tên Linh sử dụng để giao dịch mua, bán ma túy với bị cáo thì số tài khoản ngân hàng mang tên Hoàng Bích Phương, sinh ngày 25/4/2003, trú tại thôn 2, xã Kim Phú, thành phố Tuyên Quang (xác minh chị Phương xác nhận bản thân chị không đăng ký, sử dụng số tài khoản trên, chị bị mất thẻ căn cước công dân từ khoảng tháng 8/2021); đối với số điện thoại Cơ quan điều tra đã có công văn đề nghị Viettel Tuyên Quang cung cấp thông tin về chủ thuê bao nhưng Viettel Tuyên Quang không thực hiện theo yêu cầu, do đó không có đủ căn cứ, tài liệu để xác định và truy cứu TNHS đối với người tên Linh,Cơ quan Cảnh sát điều tra tách ra để tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.
- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Thị Thu T, Hoàng Ngọc Bích, Nguyễn Thị Kim Chi, Trần Thị Thu Huyền và Trần Minh Thanh Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh Tuyên Quang đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo.
- Đối với Trần Tuấn Anh chủ quán Karaoke Huyền My, trong thời gian áp dụng biện pháp giãn cách và tạm đình chỉ hoạt động kinh doanh để phòng chống dịch bệnh nhưng vẫn cho khách thuê phòng hát và sử dụng trái phép chất ma túy trong phòng hát, nhưng anh Tuấn Anh không biết Trần Thị Thu Trang sử dụng trái phép ma túy trong phòng hát. Công an tỉnh Tuyên Quang đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 15.000.000đ
. Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Sơn, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thu T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thu T 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 07/10/2021.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 0,712 gam ketamine (số còn lại sau khi lấy mẫu giám định) trong 01 (một) phong bì còn nguyên vẹn các mép dán kín, bên ngoài mặt trước bì niêm phong ghi chữ “Tang vật vụ: Nguyễn Thị Thu T giám định ngày 07/10/2021”, mặt sau trên các mép dán có chữ ký giáp lai của Nguyễn Thị Thu T, thành phần tham gia niêm phong và 05 (năm) hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang.
Tịch thu tiêu hủy 01 đĩa sứ màu trắng có viền màu đen đường kính khoảng 27cm và 01 thẻ có in chữ “HerMes Paris” màu hồng.
Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 tờ tiền VNĐ mệnh giá 50.000 đồng.
(01 đĩa sứ màu trắng có viền màu đen đường kính khoảng 27cm và 01 thẻ có in chữ “HerMes Paris” màu hồng và 01 tờ tiền VNĐ mệnh giá 50.000 đồng) đã được Công an tỉnh Tuyên Quang niêm phong trong 01 (một) hộp giấy dán kín còn nguyên vẹn trên các mép có dán giấy niêm phong có chữ ký xác nhận của Nguyễn Thị Thu T và thành phần tham gia niêm phong cùng các hình dấu của Công an xã Hoàng Khai, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, bên trong có chứa tang vật thu giữ của Nguyễn Thị Thu T, đặc điểm được mô tả như trong biên bản kiểm tra do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang (Phòng PC04), lập hồi 02 giờ 10 phút ngày 07/10/2021.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Thu T 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE lưng điện thoại có dẫy chữ và số: Model A1688 FC ID: BCG-E2946A IC: 579C-E 2946A điện thoại cũ đã qua sử dụng; 01 thẻ ngân hàng Agribank (thẻ ATM) mang tên Nguyễn Thị Thu T. (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Công an huyện Yên Sơn với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Sơn ngày 28/3/2022).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn Thị Thu T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Tuyên Quang;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND huyện Yên Sơn;
- CQCSĐT Công an huyện Yên Sơn;
- Chi cục THADS huyện Yên Sơn;
- Sở Tư pháp Tuyên Quang;
- Bị cáo;
- Hồ sơ vụ án hình sự;
Nguyễn Thị Thu Hà
- Thi hành án hình sự;
- Lưu. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thu Hà Nguyễn Duy Chung - Đặng Thị Huệ Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Tuyên Quang;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND huyện Yên Sơn;
- CQCSĐT Công an huyện Yên Sơn;
- Chi cục THADS huyện Yên Sơn;
- Sở Tư pháp Tuyên Quang;
- Bị cáo;
- Hồ sơ vụ án hình sự;
Nguyễn Thị Thu Hà
- Thi hành án hình sự;
- Lưu. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thu Hà Nguyễn Duy Chung - Đặng Thị Huệ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện Yên Sơn; - CQCSĐT Công an huyện Yên Sơn; - Chi cục THADS huyện Yên Sơn; - Sở Tư pháp Tuyên Quang; - Bị cáo; - Hồ sơ vụ án hình sự; - Thi hành án hình sự; - Lưu. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Duy Chung - Đặng Thị Huệ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hà THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |