- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Vi Văn D phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vi Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:28/2022/HSST Ngày 18/5/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Quán Vi Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vi Văn Tý.
Bà Võ Thị Thanh Hiếu.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Sầm Thị Thanh Sương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bình - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 18 tháng 05 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2022/TLST - HS ngày 27 tháng 4 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56 /2022/QĐST–HS ngày 10 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vi Văn D, tên gọi khác: Không;
Sinh năm 2002, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An;
Trú tại: Xóm Q, xã L, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông : Không xác định, và bà: Vi Thị H; Vợ, con: Chưa có; TiÒn ¸n và tiÒn sù: Không; Bị cáo bị t¹m giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Nghệ An tõ ngµy 19/01/2022 cho đến nay.
(Có mặt).
Người làm chứng: Anh Trƣơng Văn B, sinh năm 1983
Trú tại: Xóm Q, xã L, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
( Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 22 giờ 40 phút ngày 18/01/2022, tại đoạn đường thuộc bản M, xã C, huyện Q, Công an xã C, huyện Q phát hiện, bắt quả tang Vi Văn D đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi quần bên phải của Vi Văn D đang mặc 01 polyetylen bên trong có chứa chất bột nén màu trắng (nghi là Heroine).
Tại Biên bản mở niêm mở niêm phong cân, xác định khối lượng và lấy mẫu đi giám định: Số chất bột nén màu trắng có khối lượng là 0,175 g. Hội đồng đã lấy 0,080 g chất bột nén màu trắng để gửi giám định. Sau khi lấy mẫu, còn lại 0,095g.
Kết luận giám định số 255/KL-PC09(Đ2-MT) ngày 23/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu chất bột nén màu trắng thu giữ của Vi Văn D gửi tới giám định là ma túy (Heroine). Số chất bột nén màu trắng thu giữ của Vi Văn D có khối lượng là 0,175 g (không phẩy một trăm bảy mươi lăm gam)”.
Bản cáo trạng số 35/VKS – HS ngày 25/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp truy tố bị cáo Vi Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Vi Văn D khai nhận: Do nghiện ma túy nên khoảng 09 giờ ngày 18/01/2022, tại xóm Q, xã L, huyện Q, Vi Văn D đã mua của Trương Văn B 01 gói ma túy (Heroine) với giá 200.000 đồng để sử dụng. Sau khi mua được ma túy, D cất vào trong túi quần bên phải của mình rồi cùng Sầm Quang L trú tại xóm K, xã C, huyện Q đi đến nhà Nguyễn Văn D trú tại xóm Đ, xã C, huyện Q để uống rượu. Đến 22 giờ 40 phút cùng ngày, khi D đi về đến bản M, xã C thì bị bắt quả tang. Bị cáo Vi Văn D nhất trí với cáo trạng của VKSND huyện Quỳ Hợp truy tố bị cáo về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vi Văn D từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: 01 (một) phong bì thư được niêm phong, bên trong có chứa 0,095 g Heroine còn lại sau lấy mẫu, cùng vỏ, bao gói niêm phong, 01 (một) phong bì thư được niêm phong, bên trong có chứa test thử ma túy. Buộc bị cáo Vi Văn D phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
Theo lời khai của bị cáo Vi Văn D thì về nguồn gốc số ma túy trên là ngày 18/01/2022, D mua của Trương Văn B để sử dụng. Cơ quan điều tra đã xác minh, triệu tập, lấy lời khai; tiến hành, đối chất nhưng B không thừa nhận việc bán ma túy cho Vi Văn D. Cơ quan điều tra cũng không thu thập được tài liệu, chứng cứ. Do đó không có căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự đối với Trương Văn B.
Bị cáo Vi Văn D nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết việc làm của mình là sai trái mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Hợp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa bị cáo Vi Văn D hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng. Bị cáo Vi Văn D khai do là nghiện chất ma túy nghiện ma túy nên khoảng 09 giờ ngày 18/01/2022, tại xóm Q, xã L, huyện Q, Vi Văn D đã mua 01 gói ma túy (Heroine) với giá 200.000 đồng để sử dụng, đến 22 giờ 40 phút cùng ngày, thì bị bắt quả tang. Lời khai nhận của bị cáo Vi Văn D tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, vật chứng được thu giữ, gồm: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 18/01/2022; Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 19/01/2022; KÕt luËn gi¸m ®Þnh sè 255/KL-PC09(Đ2-MT), ngày 23/01/2022, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nghệ An xác định: Mẫu chất bột dạng nén màu trắng thu giữ của Vi Văn D gửi tới giám định là ma túy (Heroine). Số chất bột nén màu trắng thu giữ của Vi Văn D có khối lượng là 0,175 gam. Bị cáo Vi Văn D cất dấu khối lượng 0,175 gam ma túy (Heroine) để nhằm mục đích sử dụng. Do đó, có đủ căn cứ xác định hành vi trên của Vi Văn D đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo Vi Văn D đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý nhà nước về chất ma tuý. Vụ án xảy ra còn gây mất trật tự an ninh, an toàn xã hội. Nên cần lên cho bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm cải tạo bị cáo trở thành công dân sống có ích cho xã hội và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần phải xem xét giảm nhẹ một phần vì: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Do đó, cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng ....”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo đang bị tạm giam, trước khi phạm tội bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Theo lời khai của bị cáo Vi Văn D thì về nguồn gốc số ma túy trên là D mua của anh Trương Văn B. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng B không thừa nhận và cơ quan điều tra không thu thập được chứng cứ để chứng minh nên không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh Trương Văn B.
Vật chứng vụ án: Số ma túy thu giữ của Vi Văn D có khối lượng 0,175 gam, đã lấy 0,080 gam đưa đi giám định, còn lại 0,095 gam ma túy (Heroine) là vật Nhà nước cấm lưu hành và vỏ bao niêm phong, 1 que test thử chất ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo Vi Văn D chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Vi Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Vi Văn D 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 19 tháng 01 năm 2022.
Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 0,095 gam ma túy (Heroine) và vỏ bao niêm phong, 1 que test thử chất ma tuý.
Đặc điểm chi tiết vật chứng được phản ánh tại biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 27/4/2022 giữa Công an huyện Quỳ Hợp và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Quỳ Hợp.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.
Bị cáo Vi Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Vắng mặt người làm chứng. Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 18/5/2022.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An, - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An, - VKS ND tỉnh Nghệ An; - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An; -VKSND huyện Quỳ hợp, - Cơ quan điều tra CA huyện Quỳ hợp, - TH A DS huyện Quỳ hợp, - Bị cáo; -Bị hại ; - lưu | TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Quán Vi Tuấn |