vanban.org

Bản án 28/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 02/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 c a Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nhâm Văn T phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nhâm Văn T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án, được khấu trừ thời hạn bị tạm giữ từ ngày 30/6/2022 đ n ngày 09/7/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nhâm Văn T phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 c a Bộ luật Hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2022/HS-ST
Ngày: 02-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Chí Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Thanh Học.

Bà Phạm Thị Mỹ Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Văn Ni – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 11 năm 2022, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2022/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2022 theo Quy t định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2022/QĐXXST-HS, ngày 17 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Nhâm Văn T; sinh ngày 29/4/2003 tại A - Kiên Giang; nơi đăng ký thường trú: Ấp N, xã Y, huyện A, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở: Khu phố 4, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; t n giáo: Không; uốc tịch: Việt Nam; con ông Nhâm Văn M và bà Nguyễn Thị G; vợ, con: Không có; tiền án: Không, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị tạm giữ từ ngày 30/6/2022 đ n ngày 09/7/2022. (có mặt)

Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn N (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn bi n tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo nội dung bản Cáo trạng số: 24/CTr-VKSHT ngày 04 tháng 10 năm 2022 c a Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang đã truy tố Nhâm Văn T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như sau:

Khoảng 16 giờ, ngày 28/6/2022, tại khu vực chùa P thuộc Khu phố 4, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang, Nhâm Văn T mua 01 bịch ma túy, với số tiền 300.000 đồng c a một người thanh niên (kh ng rõ họ tên, địa chỉ) để vào gói thuốc lá đi u hiệu nhãn hiệu Jet, rồi bỏ vào túi uần bên phải T đang mặc. Đ n khoảng 04 giờ, ngày 29/6/2022, T lấy ra một ít sử dụng một mình tại phòng trọ, số ma túy còn lại T ti p tục để vào gói thuốc lá đi u nhãn hiệu Jet, bỏ vào túi uần trước bên phải cất giấu.

Đ n khoảng 03 giờ 30 phút, ngày 30/6/2022 T đi ua nhà trọ k bên nơi T đang ở (số 42 đường P, Khu phố 4, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang) để xin thuốc hút, khi thấy xe tuần tra c a C ng an thành phố H, T ném gói thuốc lá đi u nhãn hiệu Jet bên trong có cất giấu bịch ma túy xuống đất thì bị lực lượng tuần tra c a C ng an thành phố H, phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội uả tang.

Tại K t luận giám định số 605/KL-KTHS ngày 05/7/2022 c a Phòng kỹ thuật hình sự C ng an tỉnh Kiên Giang, k t luận (BL 17):

Tinh thể rắn màu trắng chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,1355 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Hoàn lại đối tượng giám định:

Tinh thể rắn màu trắng chứa trong 01 (một) bịch nylon gửi giám định, sau khi ti n hành giám định khối lượng còn lại 0,1104 gam (đựng trong hai bịch nylon) và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 605/2022.

Vật chứng trong vụ án:

Một bịch nylon màu trắng, được hàn kín, có kích thước khoảng (3,3 x 01)cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine (mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,1104 gam (đựng trong hai bịch nylon) và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 605/2022).

Vật chứng nêu trên hiện đang bảo uản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H.

Theo lời khai c a Nhâm Văn T mua ma túy c a một người thanh niên, kh ng xác định được họ tên, địa chỉ nên kh ng có căn cứ xử lý theo uy định pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên uan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Nhâm Văn T phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 c a Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 15 tháng đ n 18 tháng tù.

- Về vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu h y vật chứng là chất ma túy theo uy định c a pháp luật.

- Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo uy định.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi c a mình là vi phạm pháp luật và kh ng tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi c a bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu, lời khai c a bị cáo phù hợp với các lời khai tại Cơ uan điều tra và còn được chứng minh ua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và chứng minh tại phiên tòa, nên Hội đồng xét xử có đ cơ sở k t luận: Khoảng 03 giờ 30 phút, ngày 30/6/2022, tại khu vực chùa P thuộc Khu phố 4, phường B, thành phố H, Nhâm Văn T cất giấu trên người 01 bịch ma tuý, loại Methamphetamine. Khi thấy có xe tuần tra c a C ng an thành phố H, T ném bỏ gói thuốc lá đi u hãn hiệu Jet, bên trong có cất giấu bịch ma tuý xuống đất thì bị lực lượng tuần tra c a C ng an thành phố H phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội uả tang. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,1355 gam, mục đích để sử dụng (Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 c a Chính ph ). Hành vi c a bị cáo T đã cấu thành Tội tàng trữ trái phép chất ma túy được uy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 c a Bộ luật Hình sự, cụ thể:

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; …”.

Như vậy, Cáo trạng c a Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ phạm tội c a bị cáo: Hành vi c a bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo có đầy đ năng lực nhận thức rõ hành vi c a mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo đã thực hiện hành vi xâm phạm đ n ch độ độc quyền quản lý c a Nhà nước đối với các chất ma túy. Hành vi c a bị cáo không những làm ảnh hưởng đ n trật tự trị an tại địa phương mà còn gián ti p gây nguy hại cho sức khỏe c a bản thân khi sử dụng ma túy. Trên các phương tiện thông tin đại chúng thường tuyên truyền về tác hại c a ma túy, cũng như Nhà nước cấm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép các chất ma túy. Th nhưng bị cáo vẫn bất chấp để thực hiện hành vi phạm tội, cho thấy bị cáo rất xem thường pháp luật.

Xét về nhân thân: Tài liệu về lý lịch thể hiện bị cáo có nhân thân tốt, kh ng có tiền án, tiền sự.

Về tình ti t tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo kh ng có tình ti t tăng nặng nào. Về các tình ti t giảm nhẹ: Trong uá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi vi phạm. Vì vậy, cần xem xét, áp dụng tình ti t giảm nhẹ cho bị cáo được uy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 c a Bộ luật Hình sự.

Về áp dụng hình phạt: Xét thấy cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi c a bị cáo sao cho vừa đảm bảo tính giáo dục, vừa răn đe phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 15 tháng đ n 18 tháng tù là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận và phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội c a bị cáo. Cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian đ để cải tạo bị cáo thành c ng dân tốt, bi t t n trọng pháp luật, sống có ích cho gia đình và xã hội.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 c a Bộ luật Hình sự và Điều 106 c a Bộ luật Tố tụng hình sự: Cần tịch thu tiêu h y vật chứng gồm: Một bịch nylon màu trắng, được hàn kín, có kích thước khoảng (3,3 x 01)cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine (mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,1104 gam (đựng trong hai bịch nylon) và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 605/2022).

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về tính hợp pháp c a các hành vi, uy t định tố tụng c a Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong uá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, uyền hạn và trách nhiệm theo uy định c a Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 c a Bộ luật Hình sự;

- Điều 106 và Điều 136 c a Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Điều 23 c a Nghị uy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 c a Ủy ban thường vụ Quốc hội;

1. Tuyên bố bị cáo Nhâm Văn T phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nhâm Văn T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án, được khấu trừ thời hạn bị tạm giữ từ ngày 30/6/2022 đ n ngày 09/7/2022.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu h y: Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong có chữ ký c a giám định viên Lê Đức H, người chứng ki n niêm phong Nguyễn Văn L và hình dấu tròn c a Phòng Kỹ thuật hình sự - C ng an tỉnh Kiên Giang, gồm có: Tinh thể màu trắng chứa trong (01) một bịch nylon gửi giám định, sau khi ti n hành giám định khối lượng còn lại 0,1104 gam (đựng trong hai bịch nylon) và bao đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 605/2022).

Vật chứng nêu trên hiện đang được bảo uản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H theo Quy t định chuyển vật chứng số 16/QĐ-VKSHT ngày 04/10/2022 c a Viện kiểm sát nhân dân thành phố H và Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/10/2022 giữa đại diện Cơ uan Cảnh sát điều tra - C ng an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H.

3. Về án phí: Buộc bị cáo nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có uyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, uy t định được thi hành theo uy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có uyền thoả thuận thi hành án, uyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng ch thi hành án theo uy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo uy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ