- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Về hình sự: căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điều 106; 136; 329; 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2022/HS-ST Ngày: 28 - 4 - 2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM - TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Trần Văn Cảnh;
Các Hội thẩm nhân dân: ông Quách Xuân Luyện và bà Lê Thị Hà.
Thư ký phiên toà: bà Nhiếp Thị Liên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: bà Phạm Thị Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2022, đối với bị cáo:
- Nguyễn Văn L - sinh năm 1986; nơi cư trú: Đội 5, thôn B L, xã T N, huyện T L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Hoàng Thị N; vợ: Đinh Thị T1, con: có 03 con; lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không. Đặc điểm nhân thân: Ngày 06/12/2013, bị Công an thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Ngày 29/11/2013, Chủ tịch UBND huyện Thanh Liêm ra quyết định đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng, chấp hành xong tháng 12/2015. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/01/2022 đến ngày 12/01/2022 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Hà Nam; có mặt.
- Ngư i ch ng ki n: ông Nguyễn Văn Đ - sinh năm 1966; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 06/01/2022, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Văn L đi bộ từ nhà đến khu vực ngã tư Xuân Thành thuộc địa phận thôn Bồng Lạng, xã Thanh Nghị, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam để tìm mua ma túy. Khi đến nơi, L nhìn thấy một người đàn ông dáng người gầy, cao khoảng 1m65 đeo khẩu trang đang đứng ở ven đường (L không biết tên tuổi, địa chỉ của người này), nhìn dáng vẻ, L đoán là người nghiện ma túy nên L đi đến gần và hỏi: “Anh có hàng không để cho em một cái” - ý L muốn hỏi mua ma túy của người này, người đàn ông trả lời: “Có, lấy bao nhiêu”, hiểu ý người này có ma túy để bán nên L trả lời: “Để cho em một cái trăm rưỡi” đồng thời lấy trong người ra số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam, người này cầm tiền rồi đưa lại cho L 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục, biết là ma túy cần mua nên L cầm ở lòng bàn tay trái rồi đi bộ quay về . Trên đường đi về, L rẽ vào một hiệu thuốc ven đường mua 01 (một) chiếc xi lanh và 01 (một) lọ nước cất cầm ở tay trái rồi đi về. Đến khoảng 9 giờ 30 phút cùng ngày, khi L đang đi bộ trên đường làng liên thôn thuộc địa phận thôn Bồng Lạng, xã Thanh Nghị, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam thì bị lực lượng Công an huyện Thanh Liêm phối hợp với Công an xã Thanh Nghị, huyện Thanh Liêm nghi vấn, kiểm tra phát hiện bắt quả tang.
* Tài sản, vật chứng thu giữ khi bắt quả tang gồm:
- Thu giữ tại lòng bàn tay trái Nguyễn Văn L 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín hai đầu bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục, niêm phong ký hiệu QT01; 01 (một) chiếc xi lanh và 01 (một) lọ nước cất Novocain loại 3% đều chưa qua sử dụng.
- Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn L, Cơ quan CSĐT
- Công an huyện Thanh Liêm không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Liêm đã ra quyết định trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam giám định mẫu vật đã thu giữ được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01.
Tại bản kết luận giám định số 08/PC09-MT ngày 11/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,143g (Không phẩy một trăm bốn mươi ba gam) loại: Heroine”.
Tại bản Cáo trạng số 27/CT-VKSTL ngày 04/4/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm đã truy tố Nguyễn Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến bổ sung hoặc thay đổi gì. Sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự - xử phạt Nguyễn Văn L từ 27 đến 33 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Xử lý vật chứng: tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả sau giám định, 01 (một) xi lanh và 01 (một) lọ nước cất Novocain loại 3% đều chưa qua sử dụng.
- Bị cáo Nguyễn Văn L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: tại phiên toà cũng như tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như trong nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, bản kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 06/01/2022, trên đường liên thôn thuộc địa phận thôn Bồng Lạng, xã Thanh Nghị, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, tổ công tác Công an huyện Thanh Liêm phối hợp với Công an xã Thanh Nghị phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn L đang tàng trữ trái phép 0,143g (không phẩy một tram bốn mươi ba gam) ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn L đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi tàng trữ trái phép Heroine của Nguyễn Văn L là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, Heroine mà bị cáo tàng trữ có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam. Do đó Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải ra bản án nghiêm khắc tương xứng hành vi phạm tội của bị cáo.
Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu.
- Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
- Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, bị cáo thuộc hộ nghèo nên xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy đinh tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính: qua xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đã bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân trở thành người có ích cho xã hội, mà lại tiếp tục phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân lương thiện và phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: bị cáo thuộc hộ nghèo và là người lao động tự do, không có thu nhập ổn định, nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với số Heroine hoàn lại sau giám định, là vật cấm tàng trữ, 01 (một) xi lanh và 01 (một) lọ nước cất Novocain loại 3% đều chưa qua sử dụng hiện không có giá trị, nay sẽ căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu, tiêu huỷ.
Về các vấn đề khác:
- Về nguồn gốc số ma tuý đã thu giữ và người bán ma tuý cho Nguyễn Văn L, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Liêm đã tập trung đấu tranh song ngoài lời khai của L không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan CSĐT- Công an huyện Thanh Liêm không có căn cứ để tiến hành triệu tập xác minh người đã bán ma túy cho L cũng như nguồn gốc số ma túy đã thu giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình sự: căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điều 106; 136; 329; 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 27 (hai mươi bẩy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (06/01/2022).
- Miễn hình phat bổ sung đối với bị cáo.
2. Xử lý vật chứng: tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số ma tuý hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 08/PC09-MT mặt trước phong bì ghi chữ “Mẫu vật hoàn trả QT01”, 01 (một) xi lanh và 01 (một) lọ nước cất Novocain loại 3% (chi tiết vật chứng như trong Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/4/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Liêm với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thanh Liêm).
3. Án phí: bị cáo Nguyễn Văn L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo đối với bản án: bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
5. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Thanh Liêm; - Công an huyện Thanh Liêm; - Chi cục THA DS huyện Thanh Liêm; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam; - Cổng thông tin điện tử của Tòa án; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Cảnh |