- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cháng Thị D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Cháng Thị D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP TỈNH ĐIỆN BIÊN ______________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2022/HS-ST Ngày 15 - 01 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vàng Thị D.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Chử Dung và ông Khoàng Văn Sơn
- Thư ký phiên toà: Ông Lò Văn Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện NP.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Lê Xuân Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện NP, tỉnh Điên Biên; mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2021/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2021/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Cháng Thị D, (tên gọi khác: Không), sinh năm 1968 tại huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản NH, xã C, huyện NP, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: Không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Cháng A Sở sinh năm 1946 và con bà: Chớ Thị Chu (đã chết); Bị cáo có chồng là Sùng A Chù, sinh năm 1967 và có 07 người con; Con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh 2010. Tiền sự: Không; Tiền án: Không;
Bị bắt tạm giữ từ ngày 13/10/2021 tại Công an huyện NP tỉnh Điện Biên đến nay, có mặt.
Người phiên dịch: Ông Hồ A Dế, sinh năm 1984
Địa chỉ: Bản Huổi Hâu, xã Nà Khoa, huyện NP, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 12/10/2021, Cháng Thị D đi bộ từ nhà đến bản Đề Pua, xã Phìn Hồ, huyện NP với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Khoảng 12 giờ cùng ngày Cháng Thị D đi đên bản Đề Pua thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên và địa chỉ. Qua trao đổi Cháng Thị D biết người đàn ông đó có ma túy bán, Cháng Thị D đã thỏa thuận và mua được của người đàn ông một gói Heroine được gói bên ngoài bằng giấy ni lông màu xanh với giá 200.000 đồng Mua bán xong người đàn ông đi đâu Cháng Thị D không biết. Còn Cháng Thị D mở gói Heroine ra lấy một ít để sử dụng, số Heroine còn lại Cháng Thị D cất giấu vào trong áo phía trước bụng đang mặc. Sau đó Cháng Thị D đi bộ về nhà Sùng Thị Sú sinh năm 1994 ở bản Mạy Hốc, xã Phìn Hồ, huyện NP chơi và ngủ qua đêm. Hồi 09 giờ cùng ngày 13/10/2021 Cháng Thị D ngủ dậy thấy trong nhà không có ai nên đã lấy gói Heroine ra sử dụng tiếp, khi Cháng Thị D đang sử dụng thì nhìn thấy tổ công tác Đồn biên phòng Si Pha Phìn phối hợp với Phòng phòng chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng tỉnh Điện Biên và Công an huyện NP vào kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong lòng bàn tay trái của Cháng Thị D 01 gói Heroine có khối lượng 0,86 gam.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ma túy và lấy mẫu giám định ngày 14/10/2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP xác định số ma túy nghi Heroine thu giữ của Cháng Thị D có khối lượng là 0,86 gam.
Kết luận giám định số: 1179/GĐ-PC09 ngày 22/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận:
- Mẫu chất bột màu trắng đục trích ra từ vật chứng thu giữ của Cháng Thị D gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine.
Cáo trạng số 64/CT-VKSNP ngày 29/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện NP truy tố bị can Cháng Thị D về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Cháng Thị D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện NP đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Cháng Thị D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Cháng Thị D mức án từ 15 đến 18 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng vụ án 0,62 gam Heroine (Sau khi trừ mẫu gửi giám định).
Tại phiên tòa, bị cáo Cháng Thị D thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát; Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 09 giờ 00 phút ngày 13/10/2021, Cháng Thị D đã bị tổ công tác Đồn biên phòng Si Pha Phìn phối hợp với Phòng phòng chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng tỉnh Điện Biên và Công an huyện NP bắt quả tang tại nhà thu giữ 0,86 gam Heroine, Cháng Thị D khai nhận số vật chứng bị thu giữ là Heroine do Cháng Thị D mua về để sử dụng cho bản thân.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Lời khai của bị cáo Cháng Thị D tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định ngày 14/10/2021; Kết luận giám định số: 1179/GĐ-PC09 ngày 22/10/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Cháng Thị D đã có hành vi phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Bị cáo Cháng Thị D là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật để giữ vững kỷ cương của pháp luật góp phần đẩy lùi tội phạm ma tuý và nhằm răn đe, phòng ngừa chung trong nhân dân.
Về nhân thân: Bị cáo Cháng Thị D chưa có tiền án, tiền sự, từ nhỏ không được đi học, do không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân, hiểu biết pháp luật nhận thức còn hạn chế nên đã có hành vi vi phạm pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Cháng Thị D đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Xét đề nghị và luận tội của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử cần được xem xét để áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, xét thấy bị cáo Cháng Thị D có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có khả năng thi hành nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo Cháng Thị D không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo Cháng Thị D khai nhận đã mua ma túy của người đàn ông dân tộc Mông không biết tên và địa chỉ tại khu vực bản Đề Pua, xã Phìn Hồ, huyện NP. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh nên không có cơ sở để xác minh và xử lý đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo Cháng Thị D.
Vật chứng vụ án: gồm 0,62 gam Heroine (Sau khi trừ mẫu gửi giám định) là vật nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14. Hội đồng xét xử xét thấy gia đình bị cáo Cháng Thị D là hộ nghèo theo quy định của Chính phủ nên được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố bị cáo Cháng Thị D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
[2] Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Cháng Thị D 15 (mười lăm) tháng tù, kể từ ngày bắt: 13/10/2021.
[3] Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,62 gam Heroine (Sau khi trừ mẫu gửi giám định) cùng toàn bộ giấy ni lông và phong bì niêm phong cũ của Đồn biên phòng Si Pha Phìn theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29/11/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện NP.
[4] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14. Bị cáo Cháng Thị D được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.
[5] Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo ; - CQĐT Công an huyện NP; - Nhà tạm giữ Công an huyện NP; - CQTHAHS huyện NP; - Phòng KTNV và THA Tòa án tỉnh; - Chi cục THADS huyện NP; - PC 81 CA tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện NP; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên; - Sở tư pháp tỉnh Điện Biên; - Lưu hồ sơ vụ án; HSTHA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Vàng Thị D |