vanban.org

Bản án 28/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 25/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn S phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng: Điểm c khoản1 Điều 249; điểm s khoản 1Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt: Bị cáo Hà Văn S 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 07/01/2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để bả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn S phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TAND HUYỆN ĐẠI TỪ
TỈNH THÁI NGUYÊN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2022/HS-ST
Ngày: 25/4/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Tuấn

2. Ông Trương Khánh Thành

Thư ký phiên tòa: Bà Đào Hồng Thanh - Thư ký TAND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lã Thị Tiến, Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 4 năm 2022, tại TAND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2022/TLST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hà Văn S; Tên gọi khác: Không

Sinh ngày 08/6/1998

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Xóm 13, xã Cù Vân, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Hà Văn Mậu (đã chết); Con bà: Lô Thị Liễu, sinh năm 1969. Hiện làm ruộng tại xóm 13, xã Cù Vân, huyện Đại Từ; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Tại bản án số 396/2017/HSST ngày 26/10/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt Hà Văn S 30 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong Bản án ngày 24/9/2019.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/01/2022 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an huyện Đại Từ - có mặt tại phiên tòa.

Người chứng kiến:

1. Ông Trương Công B, sinh năm 1959 (vắng mặt)

Trú tại: Xóm N, xã Cát Nê, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

2. Ông Hà Duy T, sinh năm 1971 (vắng mặt)

Trú tại: Xóm N, xã Cát Nê, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 07/01/2022 Tổ công tác, Công an xã Cát Nê, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tiến hành tuần tra kiểm soát trên địa bàn xóm Nông Trường, xã Cát Nê, huyện Đại Từ phát hiệnmột người đàn ông nghi vấn phạm tội liên quan về ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra thì người đàn ông này khai báo họ tên là Hà Văn S, đồng thời S tự giác lấy từ trong túi quần bên trái đang mặc ra 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng rồi lấy từ trong bao thuốc lá ra 02 gói giấy màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng (S khai là ma túy loại Heroine của S mua về sử dụng cho bản thân).Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng gồm: 02 gói giấy màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng (niêm phong trong phong bì ký hiệu A).

Xét thấy vụ việc có dấu hiệu của tội phạm, Công an xã Cát Nê đã chuyển hồ sơ, vật chứng, đối tượng đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đại Từ để giải quyết theo thẩm quyền.

Hồi 18 giờ 40 phút ngày 07/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên đã tiến hành mở niêm phong và cân toàn bộ số chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A có khối lượng là: 0,218 gam; (đã niêm phong vào phong bì ký hiệu A1 gửi giám định theo quy định).

Tại kết luận giám định số 184 /KL-KTHS ngày 15/01/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine có khối lượng thu giữ ban đầu là 0,218 gam.

Tại bản cáo trạng số 26/CT-VKSĐT ngày29/3/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Hà Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Hà Văn Sphạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 BLHS, xử phạt bị cáo Hà Văn S từ 30 đến 36 tháng tù.

Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo; xử lý vật chứng theo quy định;buộc bị cáo chịu án phí HSST theo quy định.

Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan, bị cáo ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an huyện Đại Từ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

. Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà ngày hôm nay, bị cáo đã khai nhận: Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy. Khoảng 20 giờ ngày 06/01/2022 bị cáo đi xe khách từ tỉnh Cao Bằng về tỉnhThái Nguyên. Khoảng 6 giờ ngày 07/01/2022 thì về đến thành phố Thái Nguyên. Sau đó bị cáo đi xe buýt xuống khu vực xã Trung Thành, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên mục đích để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Đến nơi, bị cáo gặp một người lái xe ôm bị cáo không biết tên, địa chỉ bị cáo hỏi người lái xe ôm có biết chỗ bán chất ma túy chỉ cho bị cáo. Người lái xe ôm chỉ đường cho bị cáo đi đến một căn nhà có cánh cửa màu trắng bị cáo gõ cửa và nói để cho em con 200 (ý hỏi là mua 200.000 đồng ma túy) đồng thời đút qua khe cửa 200.000 đồng, người trong nhà nhận tiền rồi ném qua khe cửa 02 gói ma túy, bị cáo nhặt lên và cầm gói ma túyđi ra ngoài đường rồi lấy một phần ma túy ra sử dụng cho bản thân, số ma túy còn lại bị cáo gói lại và cất vào trong bao thuốc lá Thăng Long và đút vào túi quần bên trái đang mặc. Sau đó bị cáo đi nhờ xe của một người đi đường về đến khu vực xóm Nông Trường, xã Cát Nê, huyện Đại Từ. Khi đang đi bộ trên đường bê tông thuộc xóm Nông Trường, xã Cát Nê thì bị Công an xã Cát Nê phát hiện bắt quả tang, bị cáo đã tự nguyện giao nộp số ma túy vừa mua được cho Công an.

Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến Trương Công B (BL 42) và Hà Duy T (BL 45) và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án như Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, kết luận giám định. Như vậy hành vi của bị cáo Hà Văn S đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Nội dung điều luật quy định như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

...

c, Heroine… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”

. Xét tính chất vụ án: Tính chất của vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và xâm phạm trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Vì vậy cần xử lý bị cáo thật nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong công tác đấu tranh phòng chống loại tội phạm về ma túy.

. Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, nhưng năm 2017 bị cáo đã bị Tòa án TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 30 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đã chấp hành xong bản án. Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy nên bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà tiếp tục lao vào vào con đường phạm tội. Vì vậy cần, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, xử phạt bị cáo mức phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội để bị cáo cải tạo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.

. Về vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong ký hiệu A1; 01 phong bì niêm phong ký hiệu A2;Xét thấy đây là vật chứng liên quan đến vụ án không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

. Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, khi lượng hình Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc để có mức hình phạt cho phù hợp, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có công ăn việc làm ổn định, không có tài sản cá nhân gì nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước và được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Về nguồn gốc ma túy loại Heroine, S khai nhờ người đàn ông lái xe ôm chỉ đường đi mua ma túy tại một nhà người dân ở xã Trung Thành, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Do không xác định được lai lịch, địa chỉ của người lái xe ômvà người bán ma túy cho S nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn S phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng: Điểm c khoản1 Điều 249; điểm s khoản 1Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Hà Văn S 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 07/01/2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để bảo đảm thi hành án.

Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ký hiệu A1; 01 phong bì niêm phong ký hiệu A2;

(Tình trạng đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại Quyết định chuyển vật chứng số 24/QĐ – VKSĐT ngày 29/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/QH ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo S phải chịu 200.000 đồng án phí HSST sung ngân sách nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ