vanban.org

Bản án 28/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 10/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Dương Văn H phạm tội "Hủy hoại rừng"

[1]. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 243; Điều 38; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Văn H 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Dương Văn H c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn H - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Văn H phạm tội "Hủy hoại rừng"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ ĐỒN
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2022/HS - ST
Ngày 10/8/2022

NNHHÂÂNN DDAANNHH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Đình Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lục Thị Xinh và ông Triệu Văn Thiết

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Du - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Đậu Xuân Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2022/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:

DƢƠNG VĂN H - Tên gọi khác: Không, sinh ngày 06 tháng 08 năm 1967. Tại huyện H, tỉnh Cao Bằng. Nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Thôn V, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 04/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn L và con bà Trương Thị S; vợ: Lâm Thị M, con: có 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Dương Văn H: Bà Hoàng Thị Thu H - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn. Có mặt tại phiên tòa.

* Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Lục Văn C - Phó Trưởng phòng, Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn (Theo văn bản ủy quyền số 565/UBND- NN&PTNT ngày 29 tháng 3 năm 2022 của Ủy ban nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn). Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người làm chứng trong vụ án:

+ Bà Lâm Thị M, sinh năm 1966. Trú tại Thôn V, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.

+ Ông Hứa Văn T, sinh năm 1986. Trú tại Thôn V, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án: Công ty TNHH giấy và gỗ B. Địa chỉ: Tại thôn Thôn P, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nông Thị Phương T, sinh năm 1991 - Kế toán Công ty TNHH Giấy và gỗ B. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 16/7/2021, Trạm Kiểm lâm xã Bình Trung thuộc Hạt kiểm lâm huyện Chợ Đồn kiểm tra, phát hiện tại lô 15, 16, khoảnh 01, tiểu khu 333 khu rừng thuộc Thôn V, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn là khu vực rừng sản xuất, trạng thái là rừng tre nứa khác tự nhiên núi đất (TNK) bị phát phá trái pháp luật. Qua đo đạc sơ bộ, diện tích bị phát phá trái phép là 7.981 m2. Qua xác minh ban đầu xác định người thực hiện hành vi phát phá là Dương Văn H.

Ngày 30/12/2021, Cơ quan CSĐT phối hợp với các cơ quan chức năng, Chính quyền địa phương xã Bình Trung và những người liên quan tiến hành khám nghiệm hiện trường đối với diện tích rừng bị phát phá trên. Qua khám nghiệm xác định tổng diện tích rừng bị phát phá là 7.283 m2 tại lô 16, khoảnh 01, tiểu khu 333 khu rừng K thuộc Thôn V, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn và lâm sản bị thiệt hại qua kiểm đếm tại hiện trường là 10 gốc cây gỗ tự nhiên các loại từ nhóm V đến nhóm VIII và 3.727 cây vầu (Đếm theo phương pháp lập ô tiêu chuẩn) bị chặt hạ. Đối chiếu bản đồ quy hoạch 03 loại rừng ban hành kèm theo Quyết định số 1794/QĐ-UBND ngày 26/10/2018 của UBND tỉnh Bắc Kạn về việc phê duyệt kết quả rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Bắc Kạn và bản đồ hiện trạng rừng năm 2019 trên địa bàn huyện Chợ Đồn ban hành theo Quyết định 489/QĐ-UBND ngày 9/3/2020 của UBND huyện Chợ Đồn thì diện tích rừng bị phát phá trên là rừng sản xuất, trạng thái là rừng tre nứa khác tự nhiên núi đất (TNK).

Cơ quan điều tra đã tiến hành định giá tài sản đối với số lượng lâm sản bị thiệt hại. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐĐGTS ngày 12/02/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Chợ Đồn kết luận: “3.727 cây vầu có giá trị tại thời điểm tháng 10/2020 là 8.823.000 đồng (Tám triệu tám trăm hai mươi ba nghìn đồng)”.

Quá trình điều tra, truy tố Dương Văn H khai nhận: Vào khoảng tháng 10/2020 Dương Văn H một mình vào khu vực rừng K thuộc Thôn V, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn để phát diện tích rừng trên nhằm lấy đất canh tác (Trồng rừng). H đã sử dụng dao để chặt hạ các cây vầu, dây leo, cây bụi và cây rừng tự nhiên có nhiều kích thước và chủng loại khác nhau. Đối với các cây gỗ tự nhiên có kích thước lớn không thể dùng dao để chặt thì H thuê 02 người dân tộc Mông (Không rõ tên, tuổi, địa chỉ do H chỉ gặp ngoài đường) dùng máy cưa xăng để chặt hạ và trả tổng tiền công là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). Quá trình phát rừng, H đã thuê Hứa Văn T vận chuyển khoảng 06 xe loại máy kéo công nghiệp (Xe tắc tơ) chở cây vầu đến bán tại Công ty TNHH giấy và gỗ B có địa chỉ tại Thôn P, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn được số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) và H trả cho Hứa Văn T số tiền 500.000 đồng tiền công vận chuyển. Sau khi phát xong H đã tiến hành dọn, đốt số cây chặt phá và trồng cây Mỡ trên diện tích H đã phát được. Diện tích rừng bị phát phá là rừng Dương Văn H được cơ quan nhà nước giao và đã được UBND huyện Chợ Đồn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2009 mang tên Dương Văn H và vợ là Lâm Thị M.

Tại bản cáo trạng số: 23/CT- VKSCĐ ngày 29/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Dương Văn H về tội: "Hủy hoại rừng" theo điểm b Khoản 1 điều 243 của BLHS.

Điều 243 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác hủy hoại rừng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

.....

b) Rừng sản xuất có diện tích từ 5.000 mét vuông (m2) đến dưới 10.000 mét vuông (m2);

...

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo H phạm tội “Hủy hoại rừng”.

Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo H từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 đến 36 tháng.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo H.

Về phần trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ Luật hình sự, Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự.

Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo H bán được 5.000.000đ tiền cây vầu, cần phải nộp lại cho UBND huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, trong đó bị cáo phải nộp lại 4.500.000đ và anh T phải nộp lại 500.000đ do bị cáo thuê anh T chở cây vầu đi bán.

Trách nhiệm dân sự bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho UBND huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn số tiền là 3.823.000 đồng (Ba triệu tám trăm hai mươi ba nghìn đồng).

Về vật chứng: Áp dụng Điều 46 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (Một) con dao, loại dao bằng kim loại sắt dài 45 cm, rộng 05 cm, đã qua sử dụng.

Về án phí: Căn cứ vào đơn xin miễn tiền án phí của bị cáo - đề nghị miễn toàn bộ án phí hình sự, dân sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa: Người bào chữa cho bị cáo cho rằng việc truy tố, xét xử đối với bị cáo về tội danh như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ đó là: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt thấp nhất đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, lý do bị cáo kinh tế còn khó khăn và miễn án phí hình sự cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Đồn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Do có nhu cầu lấy đất canh tác (Trồng rừng) nên vào khoảng tháng 10 năm 2020 bị cáo Dương Văn H đã có hành vi trực tiếp dùng dao và thuê người phát phá trái phép 7.283 m2 (Bảy nghìn hai trăm tám mươi ba mét vuông) diện tích rừng tự nhiên, trạng thái là rừng tre nứa khác tự nhiên núi đất (TNK) gây thiệt hại 10 gốc cây gỗ tự nhiên các loại từ nhóm V đến nhóm VIII và 3.727 cây vầu có giá trị 8.823.000 đồng (Tám triệu tám trăm hai mươi ba nghìn đồng) tại lô 16, khoảnh 01, tiểu khu 333 khu rừng K, thuộc Thôn V, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết quả đo đạc diện tích do bị cáo bị hủy hoại, vật chứng và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ của vụ án. Bị cáo thực hiện hành vi khi có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết mình chưa được cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền cho phép cải tạo rừng tự nhiên sản xuất để trồng rừng mới nhưng bị cáo vẫn cố ý tự mình phát rừng tự nhiên để trồng rừng mới. Hội đồng xét xử xét có đủ căn cứ xác định việc truy tố, xét xử bị cáo Dương Văn H về tội “ Hủy hoại rừng” theo điểm b khoản 1 Điều 243 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng, xâm phạm đến sự bền vững và ổn định môi trường, gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái tại địa phương, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng.

Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Bị cáo H không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự và được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51/BLHS đó là “Người phạm tội tự nguyện khắc phục hậu quả là đã trồng lại toàn bộ cây mỡ trên diện tích đất 7.283m” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Tại phiên tòa đại diện cho UBND huyện xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có bác ruột là ông Dương Văn K là liệt sĩ mà bố đẻ của bị cáo là người thờ cúng (tình tiết này do bị cáo cung cấp chứng cứ tại phiên tòa) - đây được coi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51/BLHS.

Hình phạt bổ sung (phạt tiền): Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định. Do đó Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi thường trú rõ ràng, sinh sống ở khu vực điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, thấy không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65/BLHS vẫn có thể cải tạo giáo dục bị cáo.

Đối với anh Hứa Văn T là người mà Dương Văn H thuê vận chuyển khoảng 06 xe loại máy kéo công nghiệp (Xe tắc tơ) chở cây vầu đến bán tại công ty TNHH giấy và gỗ B và được H trả tiền công 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). Quá trình điều tra không xác định được cụ thể khối lượng vầu mà T đã vận chuyển nên không đủ căn cứ để xem xét, xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Đồn đã tách hành vi của Hứa Văn T chuyển cho Hạt kiểm lâm huyện Chợ Đồn để xem xét, xử lý hành chính theo quy định.

Đối với Công ty TNHH giấy và gỗ B có địa chỉ tại Thôn P, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, theo lời khai của Dương Văn H và Hứa Văn T là công ty đã mua số vầu mà H thuê T vận chuyển để đi bán. Quá trình điều tra, xác minh công ty không thừa nhận việc mua bán trên, bản thân Dương Văn H và Hứa Văn T không nhớ giao dịch với ai và không có giấy tờ gì chứng minh việc bán vầu cho Công ty TNHH giấy và gỗ B nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.

Đối với 02 người dân tộc Mông không rõ tên, tuổi, địa chỉ mà Dương Văn H đã thuê để chặt các cây gỗ tự nhiên, kết thúc điều tra không xác định được danh tính, địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra không xem xét, xử lý.

Đối với bà Lâm Thị M (Vợ của H), là người cùng đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất mà H phát phá trái phép, quá trình điều tra xác định bà M không biết việc H phát phá khu rừng trên, không được tham gia phát phá, nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý.

. Về trách nhiệm dân sự:

Nguyên đơn dân sự UBND huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn đã cử ông Lục Văn C - Phó Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện đại diện tham gia tố tụng đã có đơn đề nghị yêu cầu Dương Văn H phải bồi thường thiệt hại tài sản cho Nhà nước số tiền 8.823.000 đồng (Tám triệu tám trăm hai mươi ba nghìn đồng) theo kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐĐGTS ngày 12/02/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Chợ Đồn. Hội đồng xét xử xét yêu cầu này là đúng pháp luật nên được chấp nhận và được giải quyết như sau;

Về biện pháp tư pháp: Bị cáo H bán được 5.000.000đ tiền cây vầu, cần phải nộp lại cho UBND huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn để sung quỹ Nhà nước, trong đó bị cáo phải nộp lại 4.500.000đ và anh T phải nộp lại 500.000đ do bị cáo thuê anh T chở cây vầu đi bán. (Số tiền 500.000đ anh T phải nộp lại nằm trong số tiền 5.000.000đ do bị cáo H bán cây vầu mà có)

Về trách nhiệm dân sự bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho UBND huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn số tiền là 3.823.000 đồng (Ba triệu tám trăm hai mươi ba nghìn đồng)

. Xét về vật chứng:

Đối với 01 (Một) con dao, loại dao bằng kim loại sắt dài 45 cm, rộng 05 cm, đã qua sử dụng do Dương Văn H dùng để phát phá rừng - xác định là công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số lâm sản (Các loại cây tự nhiên) bị chặt trên diện tích rừng mà Dương Văn H phát phá trái phép do đã bị đốt dọn để lấy mặt bằng canh tác nên quá trình điều tra không xác định và thu hồi được - Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Xét về án phí: Bị cáo H là người dân tộc thiểu số sinh sống tại khu vực điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, không có việc làm, không có thu nhập, bản thân bị cáo thuộc hộ nghèo, bị cáo có đơn xin miễn án phí án phí - nên miễn toàn bộ án phí hình sự, dân sự sơ thẩm cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.

. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc áp dụng điều luật, tình tiết giảm nhẹ, mức hình phạt chính và xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp với pháp luật, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên được chấp nhận. Xét lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo Hội đồng xét xử thấy lời bào chữa phù hợp với quy định của pháp luật, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Dương Văn H phạm tội "Hủy hoại rừng"

[1]. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 243; Điều 38; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Văn H 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Dương Văn H cho UBND xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Hình phạt bổ sung (phạt tiền): Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[2]. Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự. Áp dụng Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Buộc bị cáo Dương Văn H nộp lại số tiền 4.500.000đ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng) cho UBND huyện C, tỉnh Bắc Kạn và buộc anh Hứa Văn T nộp lại số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) cho UBND huyện C, tỉnh Bắc Kạn để sung quỹ Nhà nước.

Buộc bị cáo Dương Văn Hphải bồi thường thiệt hại số tiền 3.823.000 đồng (Ba triệu tám trăm hai mươi ba nghìn đồng) cho UBND huyện C, tỉnh Bắc Kạn.

Việc thi hành án các khoản tiền trên được thực hiện theo Điều 357 của Bộ luật dân sự và Luật Thi hành án dân sự.

[3]. Về vật chứng: Áp dụng Điều 46 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) con dao, loại dao bằng kim loại sắt dài 45 cm, rộng 05 cm, đã qua sử dụng.

(Số lượng, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Chợ Đồn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn).

[4]. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136/BLTTHS; Luật phí và lệ phí; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo H được miễn nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, nguyên đơn dân sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ