vanban.org

Bản án 28/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 15/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Tuyên bố bị cáo Nông Thế T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nông Thế Th: 12 (mười hai) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Thế Th- Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? * Tuyên bố bị cáo Nông Thế T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA BỂ
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2022/HS-ST
Ngày: 15/11/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ma Thị Nguyên

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Xuân Trường và bà Nguyễn Thị Nga

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ưu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2022/HSST, ngày 25 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2022/QĐXXST-HS, ngày 01 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Nông Thế Th (Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 05/10/........ tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Nơi cư trú: Thôn K, xã M, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn C và bà Hoàng Thị Ph; vợ là Nông Thị K, con: 03 con (lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2020); Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 16/01/2017 bị Công an huyện Ngân Sơn xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc (đã chấp hành xong). Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nông Văn Ch, sinh năm 1972. Cư trú tại: Thôn K, xã M, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người chứng kiến:

- Chị Phạm Thị T, sinh năm 1971. Vắng mặt.

- Ông Nông Văn Q, sinh năm 1976. Vắng mặt.

Đều trú tại: Thôn N, xã M, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11h 30’ ngày 07/7/2022, Công an xã M nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc có một người đàn ông có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Công an xã M đã tiến hành tuần tra tại đoạn đường 258 thuộc thôn N, xã M, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn và phát hiện một người đàn ông đang điều khiển xe mô tô có nhận dạng giống với mô tả từ tin báo của quần chúng nhân dân nên Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra hành chính đối với người đàn ông này. Người đàn ông khai tên Nông Thế T. Quá trình kiểm tra phát hiện tại túi quần bên trái đằng trước của T đang mặc có 01 gói được gói bằng giấy có kẻ ô ly, bên trong chứa chất dạng cục, bột màu trắng nghi là chất ma túy loại Heroine nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nông Thế T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ và niêm phong 01 (một) gói ma túy vào phong bì ký hiệu A1 (Tiến hành cân xác định khối lượng được là 0,16 gam, niêm phong 0,16 gam chất bột màu trắng vào phong bì ký hiệu B1 gửi giám định); tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, màu đen, BKS 97F7 –7455.

Tại cơ quan điều tra Nông Thế T khai nhận: Bản thân là người nghiện ma túy nên ngày 04/7/2022, T mua 02 gói ma túy loại Heroine, với một người đàn ông không quen biết tại bến xe B, tỉnh B với giá 100.000 đồng, Th cầm về nhà tại thôn K, xã M và sử dụng một gói, còn một gói bị cáo cất giấu trong túi quần. Đến khoảng 11 giờ 30 phút ngày 07/7/2022, bị cáo điều khiển xe mô tô BKS 97F7-7455 đi từ nhà sang thôn N, xã M để mua đồ và có cất giấu 01 gói ma túy trong túi quần đang mặc với mục đích là sẽ sử dụng thì bị Công an xã kiểm tra hành chính, Th tự nguyện chỉ chỗ cất giấu ma túy và giao nộp 01 gói ma túy. Công an xã đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 01 gói chứa chất dạng cục, bột màu trắng nghi là ma túy heroine của Th, có khối lượng là 0,16 gam (không phẩy một sáu gam) và cùng ngày Công an xã M đã bàn giao Nông Thế Th và phong bì ký hiệu A1 chứa 01 (một) gói chất dạng cục, bột màu trắng nghi là ma túy heroine đã niêm phong.

Tại Kết luận giám định số: 143/KTHS-MT, ngày 13/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,16 gam (Không phẩy một sáu gam).

Tại bản cáo trạng số: 26/CT-VKSBB ngày 24/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Nông Thế Th về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Điều luật có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a)................

c) Heroine..... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

.............

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể giữ nguyên nội dung truy tố đối với bị cáo. Đề nghị tuyên bố bị cáo Nông Thế Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; Điều 38; Điều 50, điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ đi thời hạn tạm giữ từ ngày 07/7/2022 đến ngày 15/7/2022.

- Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47/BLHS; Điều 106/BLTTHS.

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ký hiệu B2 bên trong có chứa phong bì, giấy gói cũ vụ Nông Thế Th; 01(một) phong bì mẫu hoàn trả đã niêm phong ký hiệu T146 bên trong có chứa: Mẫu vật còn lại sau giám định là 0,11g (Không phẩy một một gam) cùng phong bì, bao gói cũ. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Mặt trước phong bì có ghi “Vụ Nông Thế Th (1990) tàng trữ trái phép chất ma túy”, ký hiệu “T146”, mặt sau có 03 chữ ký không đọc được cùng 02 dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn; 01 (một) quần dài, bằng vải, màu xanh (dạng quần rằn ri) có túi, quần cũ đã qua sử dụng.

- Trả lại cho Nông Văn C: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, BKS 97F7 – 7455, xe cũ đã qua sử dụng, xe không có gương chiếu hậu.

* Về án phí: Áp dụng Điều 136/BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo Thụy thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như Viện kiểm sát truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nông Văn Ch vắng mặt, nhưng trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt yêu cầu được nhận lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, BKS 97F7 – 7455, xe cũ đã qua sử dụng, xe không có gương chiếu hậu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt), nhưng tại cơ quan điều tra và đơn đề nghị xét xử vắng mặt đã thể hiện đầy đủ lời khai, ý kiến, quan điểm của họ, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử của Tòa án. Căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.

. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều khai: Hồi 12h 00’ ngày 07/7/2022 tại thôn N, xã M, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, Nông Thế Th đã có hành vi cất giữ, cất giấu bất hợp pháp 0,16 gam (Không phẩy một sáu gam) chất ma túy, loại Heroine. Mục đích Nông Thế Th tàng trữ trái phép chất ma túy là phục vụ cho nhu cầu sử dụng chất ma túy của bản thân, ngoài ra không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy có đủ căn cứ xác định việc truy tố, xét xử bị cáo Nông Thế Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, làm gia tăng tội phạm, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

. Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo khai mua với một người đàn ông không quen biết tại bến xe Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh vào ngày 04/7/2022, nhưng do bị cáo không biết họ, tên, địa chỉ của người đàn ông này nên không có cơ sở để điều tra xác minh.

. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nông Văn C: Quá trình điều tra, xác minh làm rõ xác định được: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, BKS 97F7 – 7455, xe đã qua sử dụng thuộc quyền sử hữu của Nông Văn C (bố đẻ của bị cáo), ngày 07/7/2022 bị cáo sử dụng xe đi lại và tàng trữ trái phép chất ma túy thì ông C không biết, T cũng không nói cho ông C biết. Xác định ông Ch và chiếc xe mô tô không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Th, ông Ch đề nghị được nhận lại tài sản là đúng quy định của pháp luật, nên cần trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, BKS 97F7 – 7455 xe cũ đã qua sử dụng cho ông Nông Văn Ch.

. Về vật chứng:

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ký hiệu B2 bên trong có chứa phong bì, giấy gói cũ vụ Nông Thế Th; 01(một) phong bì mẫu hoàn trả đã niêm phong ký hiệu T146 bên trong có chứa: Mẫu vật còn lại sau giám định là 0,11g (Không phẩy một một gam) cùng phong bì, bao gói cũ. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Mặt trước phong bì có ghi “Vụ Nông Thế T (1990) tàng trữ trái phép chất ma túy”, ký hiệu “T146”, mặt sau có 03 chữ ký không đọc được cùng 02 dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn; 01 (một) quần dài, bằng vải, màu xanh (dạng quần rằn ri) có túi, quần cũ đã qua sử dụng.

- Trả lại cho Nông Văn Ch: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, BKS 97F7 – 7455, xe cũ đã qua sử dụng, xe không có gương chiếu hậu.

. Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo của địa phương nhưng hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang nuôi 03 con nhỏ, không có tài sản riêng, không có công ăn, việc làm, thu nhập ổn định, bản thân nghiện chất ma túy, việc thi hành án đối với khoản tiền phạt không khả thi nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về án phí: Căn cứ Điều 136/BLTTHS; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Tuyên bố bị cáo Nông Thế T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Nông Thế Th: 12 (mười hai) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 07/7/2022 đến ngày 15/7/2022.

* Về vật chứng: Áp dụng Điều 47/BLHS; Điều 106/BLTTHS.

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ký hiệu B2 bên trong có chứa phong bì, giấy gói cũ vụ Nông Thế Th; 01(một) phong bì mẫu hoàn trả đã niêm phong ký hiệu T146 bên trong có chứa: Mẫu vật còn lại sau giám định là 0,11g (Không phẩy một một gam) cùng phong bì, bao gói cũ. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Mặt trước phong bì có ghi “Vụ Nông Thế Th (1990) tàng trữ trái phép chất ma túy”, ký hiệu “T146”, mặt sau có 03 chữ ký không đọc được cùng 02 dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn; 01 (một) quần dài, bằng vải, màu xanh (dạng quần rằn ri) có túi, quần cũ đã qua sử dụng.

- Trả lại cho Nông Văn Ch, sinh năm 1972. Cư trú tại: Thôn K, xã M, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, màu đen, BKS 97F7 – 7455, xe cũ đã qua sử dụng, xe không có gương chiếu hậu.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 25/10/2022 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Bể và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Bể)

* Về án phí: Căn cứ Điều 136/BLTTHS; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ