- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "P - Ph"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Tấn P.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2022/HNGĐ-ST. Ngày 20 - 5 - 2022. V/v: “Tranh chấp xác định cha cho con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Cao Trung Kiên.
Ông Phạm Hồng Thái.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy – Thư ký TAND huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định.
Ngày 20 tháng 5 năm 2022, tại Phòng xét xử, tầng 2 Chi cục Thuế khu vực Nam Ninh. Địa chỉ: Số 116 đường Trần Phú thị trấn Cổ Lễ huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 32/2022/TLST-HNGĐ ngày 27/4/202 về việc tranh chấp xác định cha cho con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/5/2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Lê Tấn P, sinh năm 1977. Trú tại: Ấp 2 xã L huyện C tỉnh Long An.
Bị đơn: Chị Trần Thị Ph, sinh năm 1988. Quê quán: Xã T huyện T tỉnh Nam Định. Hiện trú tại: Số 2/76 đường T phường T thành phố N tỉnh Nam Định.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn anh Lê Tấn P trình bày:
Trong thời gian chị Trần Thị Ph sống ly thân với chồng, anh P có quen biết và quan hệ tình cảm với chị Ph. Ngày 26 tháng 5 năm 2016 chị Ph sinh cháu Lê Thanh T. Anh đã nhiều lần đề nghị chị cho anh được nhận là cha cháu T nhưng chị Ph không đồng ý. Ngày 22 tháng 4 năm 2022 anh đã đi làm xét nghiệm ADN để xác định quan hệ giữa anh và cháu T. Theo phiếu kết quả phân tích ADN kết luận anh là cha của cháu T nhưng chị Ph không chấp nhận. Nay anh làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh xác định anh là cha cháu Lê Thanh T sinh ngày 26 tháng 5 năm 2016 để anh thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình với cháu T. Anh P có đơn xin xét xử vắng mặt.
Tại bản tự khai ngày 29/4/2022 chị Trần Thị Ph trình bày:
Chị đã nhận được thông báo thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh về việc anh P có đơn khởi kiện yêu cầu công nhận anh là cha của cháu Lê Thanh T.
Về yêu cầu khởi kiện của anh Lê Tấn P, quan điểm của chị như sau: Chị kết hôn với anh Phạm Công D năm 2007. Quá trình chung sống chị và anh D có mâu thuẫn, vợ chồng sống ly thân từ năm 2011 đến năm 2020, chị ly hôn với anh Phạm Công D. Giữa chị và anh D có một con chung là Phạm Quang D sinh ngày 21 tháng 01 năm 2008. Trong thời gian sống ly thân với anh D, chị có quen biết và quan hệ tình cảm với anh Lê Tấn P. Ngày 26 tháng 5 năm 2016 chị sinh cháu Lê Thanh T. Anh P nhiều lần đề nghị chị cho anh được nhận cháu T là con nhưng chị không đồng ý. Nay anh P có đơn khởi kiện, đề nghị Tòa án xác nhận anh là cha cháu Lê Thanh T sinh ngày 26 tháng 5 năm 2016, chị đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Chị xin được vắng mặt tại phiên tòa.
Chị Ph đồng ý đề nghị Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định thụ lý giải quyết vụ án theo đơn khởi kiện của anh Lê Tấn P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Hội đồng xét xử nhận định, sau khi nghiên cứu tài liệu trong hồ sơ vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Lê Tấn P có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh thụ lý giải quyết vụ án, chị Trần Thị Ph cũng đồng ý. Vì vậy Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh tiến hành thụ lý, giải quyết là đúng theo quy định tại Điều 28, Điều 40 BLTTDS.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án cho nguyên đơn, bị đơn theo đúng quy định của pháp luật.
Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án khi các đương sự có đơn đề nghị xét xử vắng mặt là đúng quy định tại Điều 238 BLTTDS.
Về nội dung: Anh Lê Tấn P và chị Trần Thị Ph đều xác định: Trong thời gian từ năm 2011 - 2020, chị Ph sống ly thân với chồng là anh Phạm Công D, anh P chị Ph có quen biết và quan hệ tình cảm với nhau. Ngày 26 tháng 5 năm 2016 chị Ph sinh cháu Lê Thanh T. Năm 2020 chị Ph ly hôn anh D. Chị Ph và anh D có một con chung là Phạm Quang D sinh ngày 21 tháng 01 năm 2008.
Căn cứ vào phiếu kết quả phân tích ADN số: 220422.105 ngày 22 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng khoa học, Công ty cổ phần công nghệ Gen ứng dụng Việt Nam kết luận: Anh Lê Tấn P sinh năm 1977, số CMND xxxxxxxxx, ngày cấp 06/02/2015, nơi cấp: Công an tỉnh Long An và cháu Lê Thanh T sinh ngày 26/5/2016, số giấy chứng sinh 0014725, quyển số 1HC8, ngày cấp 26/05/2016, nơi cấp Bệnh viện Hùng Vương có quan hệ huyết thống: Cha – Con với xác suất 99.9999%.
Hội đồng xét xử xét thấy, đã có đủ căn cứ để xác định anh Lê Tấn P là cha của cháu Lê Thanh T. Vì vậy yêu cầu khởi kiện của anh P là đúng, được HĐXX chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Lê Tấn P không phải nộp án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 88; 89 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng về án phí và lệ phí Toà án:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Tấn P.
Xác định anh Lê Tấn P sinh năm 1977 trú tại: Ấp 2 xã L huyện C tỉnh Long An là cha ruột của cháu Lê Thanh T sinh ngày 26 tháng 5 năm 2016 (theo giấy chứng sinh số 0014725, quyển số 1HC8, ngày cấp 26/05/2016, nơi cấp Bệnh viện Hùng Vương).
2. Án phí: Anh Lê Tấn P không phải nộp án phí.
Số tiền tạm ứng án phí anh P đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001962 ngày 27/4/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định được trả lại cho anh P.
3. Quyền kháng cáo: Anh Lê Tấn P, chị Trần Thị Ph có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của BLTTDS.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Trực Ninh; - Chi cục THADS huyện Trực Ninh; - UBND xã/ phường/TT; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Bùi Văn Dũng |