vanban.org

Bản án 28/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Th. [1] Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phan Thị Th với ông Nguyễn Hoàng D. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan Thị Thảo ly hôn Nguyễn Hoàng Dũ"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 28/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 16 - 3 - 2022
V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Hữu Tấn

2. Bà Đặng Thị Mỹ Hường

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Long Xuyên tham gia phiên toà: Ông Kiều Văn Liêu, Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 493/2021/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 23/2022/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Th, sinh năm 1995; HKTT: ấp Mỹ Thuận, xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; Địa chỉ: ấp Hòa Thành, xã Hòa Bình Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng D, sinh năm: 1991; Địa chỉ: ấp Mỹ Thuận, xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang (vắng mặt lần thứ 2 không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phan Thị Th trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Thảo và ông Dũ tự quen biết, tìm hiểu và tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2013, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hòa Hưng thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 01, quyển số 1/2015, ký ngày 09/01/2015, đây là hôn nhân lần thứ nhất của cả hai. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, đến đầu năm 2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Do mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà Thảo yêu cầu ly hôn với ông Dũ.

Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Phúc Duy, sinh ngày: 21/12/2014 và Nguyễn Thị Thảo Lam, sinh ngày 02/12/2016. Sau khi ly hôn, bà Thảo yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung và yêu cầu ông Dũ cấp dưỡng 750.000 đồng/tháng cho mỗi con cho đến khi trưởng thành.

Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Hoàng D không có văn bản trình bày ý kiến, không tham dự các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai, chứng cứ và hòa giải; cũng như không tham dự phiên tòa do Tòa án triệu tập.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án;

- Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự và còn phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án: Nguyên đơn, bị đơn tự nguyện tiến đến hôn nhân và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn là có cơ sở theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận; Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Phúc Duy, sinh ngày: 21/12/2014 và Nguyễn Thị Thảo Lam, sinh ngày 02/12/2016. Sau khi ly hôn, bà Thảo yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung. Để đảm bảo ổn định về tinh thần cũng như đảm bảo về quyền lợi về mọi mặt cho con chung nên đề nghị chấp nhận cho nguyên đơn được nuôi con chung theo quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đối với cấp dưỡng nuôi con chung: bà Thảo yêu cầu ông Dũ cấp dưỡng 750.000 đồng/tháng cho mỗi con cho đến khi trưởng thành, xét mức cấp dưỡng mà bà Thảo yêu cầu là phù hợp với quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận; về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết; về nợ chung, do nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét đến.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phan Thị Th có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Hoàng D được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai, không rõ lý do không tham gia phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Phan Thị Th khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hoàng D. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý là đúng thẩm quyền.

Tại biên bản xác minh tình trạng cư trú ngày 23/12/2021, Công an xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên xác nhận: Đương sự Nguyễn Hoàng D, sinh năm 1991, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp Mỹ Thuận, xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Tòa án đã tiến hành tống đạt trực tiếp, niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn hợp lệ nhưng bị đơn đã từ chối các quyền, cũng như không thực hiện nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Nguyên đơn bà Phan Thị Th có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Hoàng D mặc dù được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng ông Dũ vẫn không tham dự phiên tòa. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

- Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Th và ông Nguyễn Hoàng D xác lập quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của ông, bà được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Khi vợ chồng chung sống thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, bất đồng về quan điểm sống. Trong quá trình giải quyết vụ án bà Thảo xác định không còn tình cảm với ông Dũ, sống ly thân từ năm 2020 đến nay, giữa vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn được nên bà Thảo cương quyết yêu cầu ly hôn, ông Dũ cũng không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà Thảo.

Hội đồng xét xử nhận thấy, hôn nhân phải trên cơ sở tự nguyện, bà Thảo xác định không thể tiếp tục chung sống cùng với ông Dũ, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, giữa vợ chồng không còn thực hiện các quyền và nghĩa vụ cũng như không cố gắng hàn gắn, duy trì cuộc sống hôn nhân. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Thảo là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: có 02 con chung, tên Nguyễn Phúc Duy, sinh ngày: 21/12/2014 và Nguyễn Thị Thảo Lam, sinh ngày 02/12/2016. Sau khi ly hôn, bà Thảo yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung.

Xét thấy, sau khi vợ chồng sống ly thân từ năm 2020 đến nay thì 02 cháu Duy và Lam đều do bà Thảo trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và vẫn phát triển tốt về mọi mặt; hơn nữa tại biên bản ghi ý kiến con chung ngày 24/01/2022, cháu Duy cũng có nguyện vọng được sống cùng bà Thảo; quá trình giải quyết, ông Dũ không có văn bản trình bày ý kiến phản đối việc giao 02 con chung cho bà Thảo tiếp tục nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho 02 cháu khi bà Thảo và ông Dũ ly hôn, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Nguyễn Phúc Duy, sinh ngày 21/12/2014 và Nguyễn Thị Thảo Lam, sinh ngày 02/12/2016 cho bà Thảo trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục theo quy định tại Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con, cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, đây là quyền lợi của con chưa thành niên. Theo quy định pháp luật, sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, mức đóng góp phí tổn nuôi dưỡng, giáo dục con tối thiểu không dưới ½ (một phần hai) mức lương cơ sở do Nhà nước quy định đối với một người con chưa thành niên. Bà Thảo yêu cầu cấp dưỡng nuôi 02 cháu Nguyễn Phúc Duy, sinh ngày 21/12/2014 và Nguyễn Thị Thảo Lam, sinh ngày 02/12/2016 là 750.000 đồng/tháng cho mỗi cháu cho đến khi trưởng thành là phù hợp quy định pháp luật.

Do đó, Hội đồng xét xử buộc ông Nguyễn Hoàng D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung là cháu Nguyễn Phúc Duy, sinh ngày 21/12/2014 và Nguyễn Thị Thảo Lam, sinh ngày 02/12/2016 là 750.000 đồng/tháng cho mỗi cháu, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi 02 con chung đủ 18 tuổi, có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi sống bản thân, trừ trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định pháp luật. Việc cấp dưỡng được các bên thực hiện tại Cơ quan thi hành án có thẩm quyền. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: ghi nhận ý kiến của bà Thảo trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Ông Dũ không có văn bản trình bày ý kiến về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử chưa giải quyết. Đương sự có tranh chấp, khởi kiện bằng vụ kiện khác theo quy định.

Về án phí: Bà Phan Thị Th phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ông Nguyễn Hoàng D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 186; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110 và Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Th.

[1] Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phan Thị Th với ông Nguyễn Hoàng D.

Giấy chứng nhận kết hôn số 01 do Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang cấp cho bà Phan Thị Th với ông Nguyễn Hoàng D ngày 09/01/2015 hết hiệu lực kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

[2] Về con chung: Bà Phan Thị Th được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung tên Nguyễn Phúc Duy, sinh ngày: 21/12/2014 và Nguyễn Thị Thảo Lam, sinh ngày 02/12/2016.

Ông Nguyễn Hoàng D không trực tiếp nuôi con chung nhưng ông có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản ông Dũ thực hiện quyền này.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Hoàng D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung là cháu Nguyễn Phúc Duy, sinh ngày: 21/12/2014 và Nguyễn Thị Thảo Lam, sinh ngày 02/12/2016 với số tiền 750.000 (bảy trăm năm mươi nghìn) đồng/tháng cho mỗi cháu, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi 02 con chung đủ 18 tuổi, có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi sống bản thân, trừ trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định pháp luật. Việc cấp dưỡng được các bên thực hiện tại Cơ quan thi hành án có thẩm quyền. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

[4] Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Phan Thị Th phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000734 ngày 06 tháng 12 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Long Xuyên. Bà Thảo đã nộp đủ tiền án phí.

Ông Nguyễn Hoàng D phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung

[6] Về quyền kháng cáo:

Bà Thảo, ông Dũ được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ