- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Phạm Thị N xin ly hôn Nguyễn Xuân T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho bà Phạm Thị N đƣợc ly hôn ông Nguyễn Xuân T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2022/HNGĐ-ST Ngày 31-8-2022 “V/v: Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Sang và bà Nguyễn Thị Hải Yến
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh Huyền- Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khánh- Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 111/2022/TLST - HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2022 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 22/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2022/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2022 giữa các đƣơng sự;
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị N, sinh năm 1945; ĐKHKTT: Tổ 3…, khu …, phƣờng H, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1943; ĐKHKTT: Thôn C, xã D, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.
Bà N có mặt, ông T vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và các tài liệu khác có tại hồ sơ, nguyên đơn bà Phạm Thị N trình bày:
+ Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Xuân T kết hôn với nhau năm 1965, trƣớc khi kết hôn đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện H, tỉnh Quảng Ninh (nay là UBND xã L, TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh) năm 1965 (không nhớ ngày tháng đăng ký) và đƣợc cấp giấy đăng ký kết hôn, tuy nhiên do nhiều lần chuyển nhà, lƣu giữ không cẩn thận nên bị mất giấy đăng ký kết hôn bản gốc. Sau khi kết hôn, ông bà đều làm công nhân và sinh sống ở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 1985 thì xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau trong cách sống, sinh hoạt, bất đồng quan điểm, khi ông T bắt đầu nghỉ làm công nhân thì bỏ 8 mẹ con bà về quê tại thôn C, xã D, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng sinh sống vì có ngƣời phụ nữ khác, có con riêng nên không quan tâm gì đến vợ con. Một mình bà phải làm nuôi các con khôn lớn, trƣởng thành, vợ chồng ly thân từ năm 1985 cho đến nay. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Toà án giải quyết cho bà đƣợc ly hôn ông T để hai bên sớm ổn định cuộc sống.
- Về con chung: Vợ chồng có 08 con chung là Nguyễn Văn H, sinh năm 1965; Nguyễn Thị H1, sinh năm 1968, Nguyễn Thị C (tức H2) sinh năm 1970; Nguyễn Thị Hòa B, sinh năm 1972; Nguyễn Văn T, sinh năm 1974; Nguyễn Thị H3, sinh năm 1976; Nguyễn Thị T1, sinh năm 1983; Nguyễn Thị T2, sinh năm 1985. Các con chung đều đã trƣởng thành, có gia đình, có cuộc sống riêng nên không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà N không yêu cầu Toà án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T, do ông T không có mặt ở địa phƣơng nên Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ngƣời thân nhƣng ông T không đến Tòa án làm việc và cũng không có bất cứ ý kiến nào bằng văn bản gửi cho Tòa án. Kết quả làm việc với chị Nguyễn Thị L (là cháu của ông T) đƣợc cung cấp: Việc ông T, bà N kết hôn năm nào và quá trình chung sống ông bà có mâu thuẫn gì không chị không nắm bắt đƣợc. Chỉ biết sau khi không chung sống với bà N ở tỉnh Quảng Ninh nữa, ông T về địa phƣơng sinh sống và sau đó có ngƣời phụ nữ khác, có con riêng ở tỉnh Hƣng Yên nên thƣờng xuyên ở bên đó, chỉ về nhà khi có công việc rồi lại đi, còn địa chỉ nơi ở của ông T nhƣ thế nào chị không nắm đƣợc. Ông T vẫn có đăng ký hộ khẩu và lĩnh các chế độ ở địa phƣơng, chị cũng thƣờng xuyên lĩnh các chế độ và đƣa cho ông T. Tòa án giao các văn bản tố tụng cho ông T, chị nhận và cam kết giao, thông báo lại cho ông T biết để về tham gia tố tụng.
- Kết quả làm việc với đại diện UBND xã, Công an xã D và chính quyền thôn C đều đƣợc cung cấp: Trƣớc đây ông Nguyễn Xuân T có kết hôn với bà Phạm Thị N, trƣớc khi kết hôn đƣợc tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại xã L, huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, ông T, bà N chuyển ra huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh làm ăn, sinh sống nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nhƣ thế nào địa phƣơng không nắm đƣợc. Năm 1985 ông T bỏ về địa phƣơng sinh sống và sau đó có ngƣời phụ nữ khác, có con riêng nên thƣờng xuyên sinh sống tại tỉnh Hƣng Yên, còn địa chỉ cụ thể nhƣ thế nào địa phƣơng không nắm bắt đƣợc. Hiện ông T vẫn có đăng ký hộ khẩu và lĩnh các chế độ ở địa phƣơng và vẫn đi lại ở hai tỉnh. Mọi chế độ đều do chị Nguyễn Thị L lĩnh hộ và gửi cho ông T. Tại buổi làm việc giữa Tòa án và đại diện các đoàn thể xã D, đại diện Công an xã đã trực tiếp điện thoại liên lạc cho ông T và bật loa ngoài, qua đó thông báo cho ông T biết về việc bà N xin ly hôn ông T và yêu cầu ông T về Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ để giải quyết, ông T cũng cho biết ông đang ở TP Hƣng Yên, tỉnh Hƣng Yên và sẽ về Tòa án giải quyết theo giấy triệu tập của Tòa án. Nay, bà N xin ly hôn ông T, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Về con chung, ông bà có tám ngƣời con chung đều đã trƣởng thành nên Tòa án không phải giải quyết.
Tại phiên toà, Bà N vẫn giữ nguyên quan điểm nhƣ đã trình bày.
Đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa và của những ngƣời tham gia tố tụng đến trƣớc thời điểm HĐXX nghị án và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228; Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ... án phí và lệ phí Toà án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho bà Phạm Thị N đƣợc ly hôn ông Nguyễn Xuân T; Về tài sản chung: Bà N không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Miễn án phí phí ly hôn sơ thẩm cho bà Phạm Thị N;
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Xuân T đƣợc Toà án triệu tập đến tham gia phiên toà hợp lệ lần thứ 2 nhƣng đều vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt ông T.
Về hôn nhân: Bà Phạm Thị N và ông Nguyễn Xuân T kết hôn với nhau trên cơ sở đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện và có đăng ký kết hôn năm 1965 (hiện giấy chứng nhận kết hôn đã mất) là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng hạnh phúc, hoà thuận đến năm 1985 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do không hợp nhau trong cách sống, sinh hoạt, vợ chồng bất đồng quan điểm. Theo bà N trình bày và UBND xã D cung cấp do mâu thuẫn vợ chồng nên ông T về địa phƣơng sinh sống từ năm 1985, sau đó có ngƣời phụ nữ khác và có con riêng ở tỉnh Hƣng Yên nên ông T không quay về đoàn tụ với bà N nữa, vợ chồng ly thân từ đó đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Căn cứ vào các tài liệu Toà án thu thập đƣợc xác định ông T hiện vẫn đăng ký hộ khẩu thƣờng trú tại thôn C, xã D, hiện đang sinh sống ở tỉnh Hƣng Yên với ngƣời khác, thỉnh thoảng có về địa phƣơng khi có công việc rồi lại đi. Bà N đã cung cấp chính xác địa chỉ của bị đơn tại thời điểm khởi kiện và đã đƣợc UBND xã D xác nhận đƣợc coi là đã ghi đúng địa chỉ của bị đơn theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên khi ông T sinh sống nơi khác gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của vợ chồng nhƣng không thông báo cho bà N biết về nơi cƣ trú mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật Dân sự đƣợc coi là cố tình giấu địa chỉ, gây khó khăn cho bà N trong việc ly hôn. Từ khi Toà án thụ lý vụ án đến nay, mặc dù ông T biết Tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn theo yêu cầu của bà N nhƣng ông T cũng không về Toà án để làm việc, tham gia hoà giải theo các văn bản đã đƣợc Toà án giao cho ngƣời thân, chứng tỏ ông T không có thiện chí đoàn tụ, bà N vẫn cƣơng quyết ly hôn. Nhƣ vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa bà N, ông T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho bà N đƣợc ly hôn ông T là phù hợp với Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình để hai bên sớm ổn định cuộc sống.
Về con chung: Vợ chồng có 08 con chung là Nguyễn Văn H, sinh năm 1965; Nguyễn Thị H1, sinh năm 1968, Nguyễn Thị C (tức H2) sinh năm 1970; Nguyễn Thị Hòa B, sinh năm 1972; Nguyễn Văn T, sinh năm 1974; Nguyễn Thị H3, sinh năm 1976; Nguyễn Thị T1, sinh năm 1983; Nguyễn Thị T2, sinh năm 1985. Các con chung đều đã trƣởng thành, đều đã có gia đình, có cuộc sống riêng nên Toà án không phải giải quyết.
Về tài sản chung, vay nợ chung: Bà N không yêu cầu nên Toà án không giải quyết.
Về án phí: Do nguyên đơn là ngƣời cao tuổi nên đƣợc miễn nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thƣờng vụ Quốc hội quy định quy định về … án phí và lệ phí Toà án .
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 227, Điều 228; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội qui định về mức thu.... án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Xử cho bà Phạm Thị N đƣợc ly hôn ông Nguyễn Xuân T.
2. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm cho bà Phạm Thị N.
3. Về quyền kháng cáo: Bà N đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ông T đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tứ Kỳ; - Chi cục THA dân sự huyện Tứ Kỳ; - UBND xã D, huyện Tứ Kỳ; - UBND xã L, TP Hạ Long, Quảng Ninh; - Các đƣơng sự; - Lƣu: Hồ sơ vụ án, VP; ỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Quân |