- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chị C và anh T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Phạm Thị C được ly hôn anh Phạm Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2022/HNGĐ-ST Ngày 12- 7-2022 V/v ly hôn và nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Khúc Trọng Quang
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Khúc Thị Minh
Bà Đặng Thị Đôi
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quý Linh – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Phạm Quốc Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 70/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2022 về việc “Ly hôn và nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2022/QĐST- HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2022/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị C, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1963; địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn đề ngày 19 tháng 3 năm 2022 và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện K, nguyên đơn là chị Phạm Thị C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị C và anh Phạm Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 02 tháng 02 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn anh, chị cùng chung sống hạnh phúc được khoảng 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong sinh hoạt hàng ngày dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng lẫn nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải xong không cải thiện được mà ngày càng căng thẳng hơn. Chị C đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ cuối năm 2020 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân chị C và anh T không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị C đề nghị Tòa án giải quyết cho chị C được ly hôn với anh Phạm Văn T.
Về con chung: Chị C khai vợ chồng có 01 con chung là Phạm Tiến D, sinh ngày 27 tháng 8 năm 2015. Trường hợp ly hôn chị C đồng ý để anh T trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, chị C tự thỏa thuận với anh T, do vậy không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị C để tự thỏa Tận với anh T, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Phạm Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đến ngày Tòa án mở phiên tòa xét xử lần thứ hai anh T vẫn vắng mặt tại Tòa án, tuy nhiên trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án anh T cũng đã có ý kiến đồng ý với lời khai của chị C về quan hệ hôn nhân, mâu Tẫn vợ chồng cũng như về con cái và tài sản chung. Nay chị C có đơn xin ly hôn với anh thì anh T cho rằng vẫn còn tình cảm vợ chồng và không đồng ý ly hôn. Trong trường hợp ly hôn anh T đề nghị được nuôi cháu Phạm Tiến D, về cấp dưỡng nuôi con chung để anh T và chị C tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản, công nợ chung, anh T đề nghị để tự thỏa thuận với chị C, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật; bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị C và anh Phạm Văn T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị C được ly hôn anh T. Về con chung, giao con là Phạm Tiến D cho anh T nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi; về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do chị C, anh T đề nghị để tự thỏa thuận giải quyết nên đề nghị hội đồng xét xử không xem xét; về tài sản chung do chị C, anh T đề nghị để tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết, nên đề nghị hội đồng xét xử không xem xét giải quyết; nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là chị Phạm Thị C vắng mặt tại phiên: tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Phạm Văn T đã được Toà án triệu tập hợp lệ để anh T có mặt tại Toà án trình bày ý kiến của mình về việc chị Phạm Thị C có đơn xin ly hôn nhưng anh T vắng mặt tại phiên tòa hai lần không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn là chị Phạm Thị C và bị đơn là anh Phạm Văn T.
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị C và anh Phạm Văn T được xác định là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hòa Tận hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2020 thì phát sinh mâu Tẫn. Nguyên nhân mâu Tẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong sinh hoạt hàng ngày dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng lẫn nhau. Do mâu Tẫn nên chị C và anh T đã sống ly thân từ cuối năm 2020 cho đến nay. Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương và gia đình anh T thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa chị C và anh T phù hợp với lời khai của chị C, anh T. Chị C đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T, anh T không đồng ý ly hôn nhưng không có mặt tại Tòa án theo giấy triệu tập của Tòa án và vắng mặt tại các buổi hòa giải cũng như tại phiên tòa xét xử. Như vậy thể hiện tình trạng hôn nhân giữa chị C và anh T đã trầm trọng, khả năng vợ chồng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị C xin ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị C và anh T có 01 con chung là Phạm Tiến D sinh ngày 27 tháng 8 năm 2015. Trường hợp ly hôn chị C đồng ý để anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, anh T cũng có lời khai đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu D. Như vậy, cần chấp nhận đề nghị của chị C, anh T, giao con chung là Phạm Tiến D cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do anh T đề nghị để tự thỏa thuận với chị C, do vậy tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của chị C cho đến khi anh T có yêu cầu.
Về tài sản chung: Chị C, anh T đều khai vợ chồng tự thỏa Tận về tài sản chung, không đề nghị Tòa án giải quyết, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức T, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Về hôn nhân: Chị Phạm Thị C được ly hôn anh Phạm Văn T.
2. Về nuôi con chung:
2.1. Giao con chung Phạm Tiến D, sinh ngày 27 tháng 8 năm 2015 cho anh Phạm Văn T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
2.2. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của chị Phạm Thị C cho đến khi anh T có yêu cầu.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Phạm Thị C phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí chị C đã nộp theo biên lai số 0002011 ngày 04/5/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, thành phố Hải Phòng. Chị C đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị C, anh Phạm Văn T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Tận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND huyện K; - Chi cục THADS huyện K; - UBND xã T, K; - Đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Khúc Trọng Quang |