- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Thúy K.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2022/HNGĐ-ST Ngày: 09-5-2022 V/v: “Tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Mỹ Dung;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Duy Ngọc, ông Phạm Tố Hữu
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: bà Doãn Thị Hoài – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 26/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 1 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn”theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2022/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 4 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 27/2022/QĐST-DS ngày 22/4/2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Nguyễn Thị Thúy K, sinh năm 1992. Địa chỉ: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Võ Kim T, sinh năm 1989. Địa chỉ: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 24/01/2022 và tài liệu có tại hồ sơ nguyên đơn Nguyễn Thị Thúy Kiều trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy K và anh Võ Kim T tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn ngày 26/6/2014 tại Ủy ban nhân dân xã H (nay là phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên). Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vả, anh Tùng hay đánh đập vợ, con. Tháng 12/2019, vợ chồng tự nguyện sống ly thân cho đến nay. Nay, chị K xác định vợ chồng không còn tình cảm yêu thương nhau, chị K yêu cầu ly hôn với anh Võ Kim T. Việc ly hôn là hoàn toàn tự nguyện.
Về con chung: Quá trình vợ chồng sống chung có một con chung là cháu Võ Tấn L, sinh ngày 26/01/2015. Thời gian vợ chồng sống ly thân, cháu L sống và học tập ổn định cùng với mẹ tại Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Sau khi ly hôn, chị K yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Tùng phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, chị K không yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa, anh Võ Kim T vắng mặt không có lý do. Quá trình giải quyết, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng anh T không có văn bản gửi đến Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng thời không đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn được triệu tập hợp lệ, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị Thúy K, về quan hệ hôn nhân cho chị K được ly hôn anh Tùng; về con chung, giao con chung Võ Tấn L cho chị K tiếp tục nuôi dưỡng, chị K không yêu cầu cấp dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung: không yêu cầu giải quyết nên không xét. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; ý kiến Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: chị Nguyễn Thị Thúy K khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Võ Kim T hiện đang cư trú tại thôn P phường H, thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên. Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Do đó, theo quy định tại Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa xét xử vắng mặt đương sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy K và anh Võ Kim T xây dựng gia đình, tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2014, tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thúy K và anh Võ Kim T là hôn nhân hợp pháp. Hôn nhân giữa chị K và anh T xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm rạn nứt trầm trọng, hai bên tự sống xa nhau một thời gian (từ năm 2019 cho đến nay), chị K cùng với con chung bỏ đi về nhà gia đình cha mẹ ở khu phố P, phường H, thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên sinh sống cho đến nay; chị K và anh T không còn quan tâm nhau, đã được hai gia đình hàn gắn nhưng không thành. Bản thân chị K đã từng nộp đơn ly hôn đến Tòa án và sau đó tự nguyện rút đơn vì cần thời gian giải quyết mâu thuẫn vợ chồng, nhưng không thành. Điều này phù hợp với biên bản xác minh mâu thuẫn hôn nhân ngày 17/3/2022, được xác nhận của địa phương phường H, thị xã Đ, Phú Yên; Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hôn nhân gia đình số 53/2021/QĐST-HNGĐ ngày 16/9/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.
Xét thấy, giữa chị K và anh T đã tự cắt đứt liên lạc với nhau, sống ly thân, không còn quan tâm nhau, tình cảm vợ chồng không còn; mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Thúy K được ly hôn với anh Võ Kim T, để đảm bảo các bên ổn định cuộc sống riêng.
Về con chung: Căn cứ vào lời khai của đương sự, bản sao giấy khai sinh có cơ sở xác định: chị Nguyễn Thị Thúy K và anh Võ Kim T có một con chung tên Võ Tấn L, sinh ngày 26/01/2015. Từ khi vợ chồng sống xa nhau đến nay con chung do chị K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét thấy, chị K đảm bảo được việc chăm sóc và giáo dục con, cháu L có nguyện vọng được sống cùng mẹ. Do đó, giao con chung Võ Tấn L cho chị Kiều được tiếp tục nuôi dưỡng, chị K không yêu cầu cấp dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.
. Về tài sản chung: không yêu cầu nên Tòa không giải quyết.
. Về án phí: chị Nguyễn Thị Thúy K phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 228 và 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Thúy K.
1. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Thúy K được ly hôn anh Võ Kim T.
2. Về con chung: giao một con chung Võ Tấn L, sinh ngày 26/6/2015 cho chị Nguyễn Thị Thúy K được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; anh Võ Kim T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Võ Kim T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về án phí: chị Nguyễn Thị Thúy K phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền số 000xxx ngày 24/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Hòa.
4. Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Yên; - VKSND thị xã Đông Hoà ; - Chi cục THADS thị xã Đông Hòa; - Các đương sự; - UBND P. Hòa Xuân Tây; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Mỹ Dung |