vanban.org

Bản án 28/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đào Thị H

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị H được ly hôn với anh Vũ Văn S Về con chung: Giao con chung Vũ Đức A sinh ngày 02 tháng 7 năm 2008 cho chị Đào Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tạm hoãn việc anh Vũ Văn S cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đào Thị H và Vũ Văn S"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đào Thị H
  • Căn cứ chính? Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN LÃO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:28/2022/HNGĐ-ST
Ngày 30-6-2022
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Định.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Văn Thôn;

Ông Nguyễn Tiến Hưng.

- Thư ký phiên toà: Ông Lương Đăng Bùi - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trần Công Tài - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 16/2022/TLST- HNGĐ, ngày 21 tháng 02 năm 2022 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 466/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 523/2022/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đào Thị H, nơi ĐKHKTT: Thôn V, xã A, huyện A, Hải Phòng; nơi ở: Thôn C, xã Q, huyện A, Hải Phòng, vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Vũ Văn S, nơi ĐKHKTT và hiện ở: Thôn V, xã A, huyện A, Hải Phòng, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 11 tháng 01 năm 2022 và các bản tự khai, nguyên đơn chị Đào Thị H trình bày:

Chị Đào Thị H và anh Vũ Văn S kết hôn tự nguyện, có tổ chức cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn năm 1998 tại UBND xã A, huyện A, Hải Phòng. Vợ chồng chung sống thời gian đầu hạnh phúc nhưng đến khoảng năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách, lối sống của hai người không hòa hợp. Anh S có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, không quan tâm đến gia đình. Nay chị H thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn đoàn tụ được nên đề nghị toà án giải quyết được ly hôn với anh Vũ Văn S. Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Vũ Thị H sinh năm 1999, Vũ Thị Hồng N sinh năm 2001 và Vũ Đức A sinh ngày 02 tháng 7 năm 2008. Hai người con lớn đã trưởng thành, có gia đình riêng nên chị H không yêu cầu tòa án giải quyết. Chị H yêu cầu được nuôi con chung Vũ Đức A và không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Vũ Văn S đã được tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo hòa giải nhiều lần đến tòa án để tham gia giải quyết vụ án nhưng anh Vũ Văn S đều vắng mặt không có lý do nên không có lời khai của anh Vũ Văn S.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điều 19, 53, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình: Cho chị ĐàoThị Hải được ly hôn với anh Vũ Văn S. Về con chung: Chị H và anh S có 03 con chung là Vũ Thị H sinh năm 1999, Vũ Thị Hồng N sinh năm 2001 và Vũ Đức A sinh ngày 02 tháng 7 năm 2008. Hai người con lớn đã trưởng thành, có gia đình riêng nên chị H không yêu cầu tòa án giải quyết. Chị H yêu cầu được nuôi con chung Vũ Đức A và không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu tòa án giải quyết. Về án phí: Chị H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Đào Thị H xin ly hôn anh Vũ Văn S có địa chỉ nơi cư trú tại: Thôn V, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng nên đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn là chị H có đơn đề nghị tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn là anh S vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, không có đơn đề nghị tòa án xét xử vắng mặt mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

- Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Đào Thị H và anh Vũ Văn S kết hôn tự nguyện, có tổ chức cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn năm 1998 tại UBND xã A, huyện A, Hải Phòng nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng giữa chị Đào Thị H và anh Vũ Văn S bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn từ khoảng năm 2013. Nguyên nhân là do tính cách, lối sống của hai người không hòa hợp. Anh S đã có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nên bỏ mặc gia đình. Giữa hai anh chị thường xuyên xảy ra cãi vã, xô xát. Gia đình hai bên đã khuyên giải nhiều lần nhưng không được. Trên thực tế anh chị đã sống ly thân, không ai còn quan tâm đến ai nữa. Hội đồng xét xử nhận định mâu thuẫn giữa chị H và anh S đã rất nghiêm trọng, hạnh phúc gia đình không có, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị H có đơn xin ly hôn với anh S là có căn cứ, phù hợp với thực tế cuộc sống của anh chị, đúng quy định của pháp luật theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị H và anh S có 03 con chung là Vũ Thị H sinh năm 1999, Vũ Thị Hồng N sinh năm 2001 và Vũ Đức A sinh ngày 02 tháng 7 năm 2008. Hai người con lớn đã trưởng thành, có gia đình riêng nên chị H không yêu cầu tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét. Chị H yêu cầu được nuôi con chung Vũ Đức A và không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Xét hiện tại cháu Đức Anh đang thực tế sinh sống với chị H; anh S lại đi vắng thường xuyên, không có điều kiện thời gian chăm sóc con nên yêu cầu của chị H được nuôi con chung Vũ Đức A là có căn cứ.

Về tài sản chung: Chị Đào Thị H không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Đào Thị H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 19, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đào Thị H

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị H được ly hôn với anh Vũ Văn S

2. Về con chung: Giao con chung Vũ Đức A sinh ngày 02 tháng 7 năm 2008 cho chị Đào Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tạm hoãn việc anh Vũ Văn S cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Đào Thị H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Đào Thị H đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001159 ngày 21 tháng 02 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Chị Đào Thị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

4. Chị Đào Thị H và anh Vũ Văn S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ