- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Nguyên đơn NHTMCP B và bị đơn Võ Cẩm T"
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 28/2022/DSST Ngày 28 - 3 - 2022 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Từ Văn Nhứt.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dư Thị Út và bà Khưu Liên Dung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Kép – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Trần Mỹ Linh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 333/2021/TLST-DS ngày 24 tháng 11 năm 2021 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2022/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 02 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần B.
Địa chỉ: Tầng 1,3,4,5,6, Tòa nhà Thaiholdings Tower, Số , đường T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Doãn S - Chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP B.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lâm Thanh T - Chức danh: Chuyên viên Ngân hàng TMCP B Chi nhánh Bạc Liêu.
2. Bị đơn: Bà Võ Cẩm T, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Số , đường H, Khóm , Phường , thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
(Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không thông báo lý do, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, không người đại diện tham gia phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần B (sau đây viết tắt là Ngân hàng) trình bày:
Ngày 21/07/2017 Ngân hàng thương mại cổ phần B đã giải ngân cho bà Võ Cẩm T số tiền 160.000.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm sáu mươi triệu đồng) theo Hợp đồng Tín dụng số: HDTD92020171235, thời hạn cho vay 60 tháng, gốc và lãi được trả định kỳ hàng tháng. Trong quá trình vay bà Võ Cẩm T chỉ thanh toán được 47 phân kỳ trả nợ, chưa thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng từ phân kỳ trả nợ thứ 48 vào ngày 15/07/2021. Tính đến thời điểm hiện tại, bà Võ Cẩm T đã thanh toán cho Ngân hàng được tổng cộng: 174.522.966 đồng (trong đó gốc là: 125.792.957 đồng và lãi là: 48.730.009 đồng).
Nay Ngân hàng thương mại cổ phần B yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu buộc bà Võ Cẩm T phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng số HDTD92020171235, với tổng số tiền nợ tạm tính còn phải trả đến hết ngày 28/3/2022 là: 38.297.104 đồng, (Trong đó nợ gốc là 34.207.023 đồng và nợ lãi trong hạn: 2.342.309 đồng, lãi quá hạn: 1.747.772 đồng).
Kể từ ngày 29/3/2022 cho đến khi thanh toán dứt điểm khoản vay tại Ngân hàng, bà Võ Cẩm T phải chịu lãi suất quá hạn theo quy định của hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng. Ngoài ra, Ngân hàng không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
* Đối với bị đơn bà Võ Cẩm T không cung cấp lời khai của mình cho Tòa án, Tòa án có đến nơi cư trú của bà T để lấy lời khai nhưng bà T vắng mặt nơi cư trú. Cơ quan có thẩm quyền tại địa phương nơi cư trú của bà T xác định: Bà Võ Cẩm T vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại số 116, đường Hòa Bình, Khóm 4, Phường 3, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, hiện nay bà T không còn cư trú, sinh sống tại địa chỉ trên, địa phương không biết hiện tại bà T ở đâu, làm gì vì khi đi bà T không có báo với chính quyền địa phương. Từ đó, Tòa án tiến hành niêm yết công khai tất cả các văn bản tố tụng của Tòa án đúng quy định pháp luật nhưng đến nay bà T vắng mặt không có lý do.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án:
+ Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần B đối với bà Võ Cẩm T, buộc bà T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần B số tiền nợ tính đến hết ngày 28/3/2022 là: 38.297.104 đồng, (Trong đó nợ gốc là 34.207.023 đồng và nợ lãi trong hạn: 2.342.309 đồng, lãi quá hạn: 1.747.772 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 29/3/2022 đến khi bà T trả hết nợ cho Ngân hàng theo lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng.
+ Về án phí: Buộc bà Võ Cẩm T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá gạch theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng thương mại cổ phần B khởi kiện yêu cầu bà Võ Cẩm T trả số tiền nợ vay còn thiếu theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa hai bên nên đây là quan hệ Dân sự về việc tranh chấp Hợp đồng tín dụng, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn bà T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Phường 3, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, qua xác minh bà T không còn cư trú tại địa phương nhưng không thông báo về việc thay đổi nơi cư trú mới cho Ngân hàng biết nên được xem như cố tình dấu địa chỉ. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn bà Võ Cẩm T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bà T.
[2] Về nội dung vụ án:
Căn cứ Hợp đồng tín dụng số HDTD92020171235 ngày 21 tháng 7 năm 2017 thể hiện Ngân hàng thương mại cổ phần B cho bà Võ Cẩm T vay số tiền 160.000.000đ; Mục đích sử dụng tiền vay: Tiêu dùng (mua sắm đồ gia dụng); Lãi suất cho vay 12%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; Thời hạn vay: 60 tháng; Vay không có tài sản đảm bảo. Hợp đồng tín dụng trên được các bên tự nguyện ký kết, hình thức, nội dung thỏa thuận của các bên là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng.
Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng xác định: Bà Võ Cẩm T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn, nhiều lần vi phạm và đã được nhắc nhở làm việc trực tiếp nhưng không khắc phục, phát sinh nợ quá hạn. Nay Ngân hàng yêu cầu bà T trả toàn bộ phần nợ đã vay của Ngân hàng.
Xét thấy, bà Võ Cẩm T không thực hiện đúng thỏa thuận trả nợ đã giao kết trong hợp đồng là vi phạm hợp đồng đã ký kết với Ngân hàng. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà T trả nợ vay, tính đến hết ngày 28/3/2022 bà Võ Cẩm T còn nợ Ngân hàng số tiền 38.297.104 đồng (Trong đó nợ gốc là 34.207.023 đồng và nợ lãi trong hạn: 2.342.309 đồng, lãi quá hạn: 1.747.772 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 28/3/2022 đến khi bà T trả hết nợ cho Ngân hàng theo lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập bà Võ Cẩm T để giải quyết vụ án nhưng bà T vắng mặt được xem là đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình.
[3] Ý kiến của Viện kiểm sát: Trên cơ sở phân tích nêu trên có cơ sở chấp nhận toàn bộ lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.
[4] Về án phí: Buộc bà Võ Cẩm T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá gạch theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Áp dụng Điều 91; điểm a khoản 3 Điều 98 của Luật tổ chức tín dụng; Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần B đối với bà Võ Cẩm T.
Buộc bà Võ Cẩm T có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần B tổng số tiền tính đến hết ngày 28/3/2022 là 38.297.104 đồng (Trong đó nợ gốc là 34.207.023 đồng và nợ lãi trong hạn: 2.342.309 đồng, nợ lãi quá hạn: 1.747.772 đồng).
Kể từ ngày 29/3/2022, bà Võ Cẩm T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng HDTD92020171235, ngày 21 tháng 7 năm 2017 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng nêu trên, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thương mại cổ phần B thì lãi suất mà bà T phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại cổ phần B.
2. Về án phí:
- Buộc bà Võ Cẩm T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 1.914.855đ.
- Ngân hàng thương mại cổ phần B không phải chịu án phí. Ngân hàng thương mại cổ phần B đã nộp tạm ứng án phí số tiền 900.000đ theo biên lai thu tiền số 0007132, ngày 24 tháng 11 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, nay được hoàn lại toàn bộ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND thành phố Bạc Liêu; - Chi cục THADS thành phố Bạc Liêu; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Từ Văn Nhứt |