vanban.org

Bản án 28/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Thanh Khê, TP Đà Nẵng Tuyên án 29/08/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Công ty tài chính TNHH V đối với ông Phạm Đình D

* Xử: Buộc ông Phạm Đình D phải trả cho Công ty tài chính TNHH V tổng số tiền 70.998.010 đồng, trong đó tiền gốc là 53.024.566 đồng, tiền lãi là 17.973.444 đồng. Lãi tiếp tục được tính trên số tiền gốc còn phải thi hành án kể từ ngày 21.6.2022 theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa Công ty tài chính TNHH V và ông Phạm Đình D"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Công ty tài chính TNHH V đối với ông Phạm Đình D
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Q. THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 28/2022/DS-ST
Ngày 29 tháng 08 năm 2022.
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. THANH KHÊ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Cường.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Thuận và bà Lê Thị Nhớ

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yên Thảo - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Ngày 29 tháng 08 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 101/2022/TLST-DS ngày 18 tháng 05 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2022/QĐST-DS ngày 10 tháng 08 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 101/2022/QĐST - DS ngày 24 tháng 08 năm 2022 giữa:

* Nguyên đơn: Công ty tài chính TNHH V; Địa chỉ: Tầng 2, tòa nhà R, số 9 đường B, phường A, quận C, thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Đức T - chức danh: Chuyên viên tố tụng Công ty Luật TNHH S; địa chỉ: Số 89 đường T, phường X, quận L, thành phố Đà Nẵng (theo Văn bản ủy quyền số 42 ngày 18/03/2022, Văn bản ủy quyền số 01/UQ-XLTD.22 ngày 01/07/2022 và Văn bản ủy quyền số 01/2022/UQ-SL ngày 20/07/2022), có mặt.

* Bị đơn: Ông Phạm Đình D, sinh năm 1969; địa chỉ: Số K27/55 đường T, phường G, quận K, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt lần 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện,bản tự khai và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Nguyên vào ngày 04/06/2019, ông Phạm Đình D có ký hợp đồng tín dụng số 20190604-0006924 với Công ty tài chính TNHH V vay số tiền 69.841.000 đồng, với lãi suất thỏa thuận 2.5%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, ông Phạm Đình D có trách nhiệm thanh toán số tiền 106.732.010 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 36 tháng; 35 tháng đầu, mỗi tháng trả 2.965.000 đồng; tháng cuối cùng 2.957.010 đồng. Bắt đầu từ ngày 19/07/2019.

Thực hiện hợp đồng, khách hàng đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và thanh toán cho Công ty tài chính TNHH V 13 lần với tổng số tiền đã trả là 35.734.000 đồng. Kể từ ngày 16/07/2020 đến nay, ông Phạm Đình D không thanh toán thêm bất kì khoản nào dù Công ty đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở.

Do khách hàng trễ hạn thanh toán nên Công ty tài chính TNHH V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Phạm Đình D thanh lý hợp đồng trả một lần cho Công ty toàn bộ số tiền nợ bao gồm các khoản sau:

- Trả toàn bộ khoản nợ gốc tính đến ngày 20/06/2022: 53.024.566 đồng

- Trả toàn bộ khoản nợ lãi tạm tính đến ngày 20/06/2022: 17.973.444 đồng.

Tổng số tiền Công ty khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Phạm Đình D phải thanh toán là 70.998.010.

Ông Phạm Đình D vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên không có ý kiến trình bày trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp giữa nguyên đơn Công ty tài chính TNHH V và bị đơn ông Phạm Đình D là tranh chấp hợp đồng tín dụng, bị đơn có địa chỉ cư trú trên địa bàn quận K nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn là ông Phạm Đình D vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án:

Nguyên vào ngày 04.06.2019, ông Phạm Đình D có ký hợp đồng tín dụng số 20190604-0006924 với Công ty tài chính TNHH V để vay số tiền 69.841.000 đồng, lãi suất thỏa thuận 2.5%/tháng, mục đích để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, ông Phạm Đình D có trách nhiệm thanh toán số tiền 106.732.010 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả trong vòng 36 tháng, 35 tháng đầu, mỗi tháng trả 2.965.000 đồng, tháng cuối cùng trả 2.957.010 đồng, bắt đầu trả từ ngày 19.07.2019.

Thực hiện hợp đồng, ông D đã nhận tiền vay và đã thanh toán cho Công ty tài chính TNHH V 13 lần với tổng số tiền là 35.734.000 đồng. Kể từ ngày 16.07.2020, ông Phạm Đình D không thanh toán thêm bất kì khoản nào cho Công ty.

Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình thực hiện cam kết trong hợp đồng, ông D đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán. Cụ thể, tính đến ngày 16/07/2020, ông D chỉ thanh toán một phần tiền gốc và lãi và từ đó không còn thanh toán cho Công ty tài chính thêm số tiền nào nữa. Số tiền hiện tại ông D còn nợ Công ty tài chính TNHH V là 70.998.010 đồng, trong đó tiền gốc 53.024.566 đồng, tiền lãi là 17.973.444 đồng. Như vậy, ông D đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, vi phạm các cam kết trong hợp đồng tín dụng, là người có lỗi trong việc thực hiện hợp đồng tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để buộc ông Phạm Đình D phải trả số tiền còn nợ trên cho Ngân hàng là có cơ sở.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Vì chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên án phí dân sự sơ thẩm bị đơn phải chịu 70.998.010đ x 5% = 3.549.500đ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 463, 466, 468 và khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự;

Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Công ty tài chính TNHH V đối với ông Phạm Đình D

* Xử: Buộc ông Phạm Đình D phải trả cho Công ty tài chính TNHH V tổng số tiền 70.998.010 đồng, trong đó tiền gốc là 53.024.566 đồng, tiền lãi là 17.973.444 đồng.

Lãi tiếp tục được tính trên số tiền gốc còn phải thi hành án kể từ ngày 21.6.2022 theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 20190604-0006924 ngày 04.6.2019.

2. Án phí dân sự sơ thẩm là 3.549.500 đồng, ông Phạm Đình D phải chịu. Công ty tài chính TNHH V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Công ty tài chính TNHH V 1.774.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 2736 ngày 18.05.2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu câù thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ